Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

4 tháng 11, 2011

QUO VADIS, DOMINE?


Ðêm trước ngày vào cơ mật viện để bầu Giáo Hoàng, Hồng Y Karol Wojtyla đã chuẩn bị hành lý để trở về Krakow, tổng giáo phận của ngài. Thế nhưng, ngài đã không trở lại Krakow nữa� Ngày thứ hai, 16 tháng 10 năm 1978, vị Hồng Y 58 tuổi này đã được bầu làm Giáo Hoàng và lấy tên là Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Ba Lan, là vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải là người Italia kể từ 450 năm qua, và tính từ 150 năm trở lại, thì ngài là vị Giáo Hoàng trẻ nhất. 
Trong khi chuẩn bị cho bài giảng Chúa Nhật đầu tiên kể từ lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã nghĩ đến tác giả của quyển tiểu thuyết giả sử nổi tiếng "Quo vadis, Domine?" là ông Henryk Sienkiewicz, một văn sĩ và đồng thời cũng là một nhà ái quốc Ba Lan� Qua tác phẩm này, vị Giáo Hoàng người Ba Lan đã so sánh tâm tình của mình với vị Giáo Hoàng đầu tiên là thánh Phêrô như được ghi lại trong tác phẩm "Quo vadis,Domine?", "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Theo tác giả quyển tiểu thuyết giả sử, thì có lẽ thánh Phêrô thích ở lại quanh quẩn bên bờ hồ Genezareth hơn là đến giữa trung tâm của đế quốc La Mã để gặp không biết bao nhiêu chống đối và bách hại. Giữa lúc vị Giáo Hoàng đầu tiên toan tình trốn khỏi La Mã để trở về quê hương mình, thì ngài gặp lại Chúa Giêsu hiện ra đang đi ngược chiều với ngài. Ngạc nhiên về sự xuất hiện của Chúa, thánh Phêrô đã hỏi: "Quo vadis, Domine?" nghĩa là "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Và Chúa Giêsu đã trả lời như sau: "Ta đang đi đến La Mã để chịu đóng đinh một lần nữa". Hiểu được ý Chúa, Phêrô đã quay trở lại La Mã và ngài ở lại đó cho đến khi chịu đóng đinh.
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Carolô Borremêô và mừng bổn mạng một cách đặc biệt của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Mãi mãi tên Carolô gắn liền với tên tuổi và vận mệnh của Ðức Thánh Cha. Hơn ai hết, ngài phải là người kính nhớ và ghi ơn vị thánh bổn mạng nhiều nhất.
Tên thánh được đặt cho chúng ta trong ngày chịu Phép Rửa đánh dấu sự đổi đời quan trọng của chúng ta. Từ cái chết trong tội lỗi, chúng ta được tái sinh trong sự sống của Chúa. Hướng đi của chúng ta phải là hướng đi tới Chúa, không thể là bước thụt lùi.
Mang lấy tên thánh Carolô, Wojtyla đã quyết tâm hướng cuộc đời của mình tiến tới trong phục vụ và hy sinh như như chính thánh giám mục Carolô Borremêô. Và khi chọn lấy danh hiệu mới là Gioan Phaolô, vị Giáo Hoàng người Ba Lan cũng quyết tâm tiến tới trên con đường mà hai vị tiền nhiệm của mình đã vạch ra... Là người Kitô, chúng ta cũng luôn được mời gọi tiến tới không ngừng trên đường theo chân Chúa Giêsu. Tên thánh mà chúng ta mang lấy trong ngày Rửa Tội, danh hiệu Kitô mà chúng ta được đặt cho phải luôn luôn là một nhắc nhở chúng ta về con đường tiến lên ấy. Chắc chắn con đường ấy không là một con đường rộng thênh thang. Sự tiến lên ấy không là một đà tiến dễ dàng. Phêrô đã quay trở lại La Mã để chịu đóng đinh... Thập giá có lẽ đang chờ đợi chúng ta, chúng ta hãy hiên ngang tiến bước vì đó chính là hướng đi của tất cả những ai mang danh hiệu Kitô.



Tác giả Veritas



3 tháng 11, 2011

HỠI NGƯỜI CÒN SỐNG XIN NHỚ ĐẾN CHÚNG TÔI

Photobucket
Thánh lễ " CẦU CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN ĐƯỢC LÊN CHỐN NGHỈ NGƠI ". Đã diễn ra vào lúc 5h30, ngày 02/11/2011 tại Giáo Xứ Thiên Ân. ( Mời xem slide show )
   ( Xin click vào biểu tượng dưới để nghe nhạc )





DANH NGÔN

Kẻ nào theo ý ta mà nói người khác là kẻ tiểu nhân, ta cần tránh xa.
*******


Lòng nghĩ làm hại người, chẳng nên có;
Lòng nghĩ đề phòng người chẳng nên không.
*******


Đẹp mà vô duyên tuy cũng hấp dẫn, nhưng không bền lâu, đó là cục mồi mà không có lưỡi câu
DANH NGÔN HY LẠP
*******


Đam mê giống như lửa với nước: Đó là những đầy tớ tốt và là những ông chủ xấu.
R.L'ESTRANGE
*******


TIỂU SỬ THÁNH MARTIN DE PORRES (1579 – 1639)

Bạn thân của người nghèo khổ và của loài vật vô tri.
Martinô Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu. Trong sổ Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh”. Thật ra cha của cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị trưởng tại Panama. Ông không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu. Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da đen. Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất đời của cậu.
Mẹ con cậu Martinô tuy nghèo, nhưng lại rộng lòng bác ái với những người cùng cảnh ngộ. Một hôm bà mẹ gọi hai anh em Martinô và Gioanna, trao cho mấy đồng xu và sai chúng ra chợ mua rau. Bà đã cặn kẽ bảo em giữ tiền cẩn thận đi thẳng đến chợ, không nên nhìn hai bên đường. Vì bà nghĩ nếu con mình thấy kẻ nghèo khó thì sẽ thương mà tặng cho họ những đồng tiền mẹ con đang cần cho bữa tối nay. Hai anh em vâng dạ và mau mắn ra đi. Ðang đi, mắt cô em đã bắt gặp người ăn xin mặc đồ rách rưới bên kia đường. Ý nghĩ là sẽ không nói, nhưng tự nhiên cô bé bật miệng kêu “Kìa!” Thế là Martinô nhìn theo em.
Nghĩ đến lời mẹ căn dặn, hai anh em đã cố gắng đi tiếp. Những cậu lại nghĩ chắc mẹ cũng không nỡ để người hành khất này chết đói. Thế là hai anh em quay lại bên người hành khất, cậu lấy tiền ra và nói: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, ông hãy cầm lấy số tiền này!” Ông nhận quà, miệng rối rít cám ơn và xin Chúa chúc lành cho hai em. Thế là hết tiền, hai anh em đâm lo, không biết phải nói với mẹ làm sao. Vừa tới ngang nhà thờ chính tòa thành Lima, hai anh em liền vào, lên tận bao lơn cung thánh. Quỳ ở đó, Martinô đã cất lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, xin ban của ăn cho chúng con. Con mới cho người hành khất số tiền duy nhất của mẹ con rồi. Chúng con không còn gì cho bữa tối nay. Xin Chúa đừng để mẹ con buồn giận chúng con. Cám ơn Chúa!” Em Gioanna thưa: “Amen”.
Martinô và Gioanna đứng dậy, bái Chúa rồi ra về, lòng đầy tin cậy Chúa biết rõ những gì gia đình các em cần. Vừa thấy hai con, bà không thấy chúng cầm gì thì biết ngay chúng đã gặp ai và hành động thế nào rồi. Bà cũng suy nghĩ có đánh, có la mắng chúng lúc này cũng chẳng ích gì. Vả lại, bà cũng từng bảo các con phải thương giúp người nghèo. Bà quay vào và liên tưởng đến người chồng, với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho ba tụi nhỏ sớm nghĩ lại, để chúng con có của nuôi thân, và có thể làm phúc cho cả những người nghèo nữa!”
Khi Martinô được 8 tuổi, tức năm 1587, ông Gioan Porres, một sĩ quan Tây Ban Nha, đã hồi tâm và trở về chăm sóc mẹ con bà Anna Velasquez. Ông đã đem hai con gửi trọ học ở nhà ông chú tên là Giacôbê tại Equador. Ở đây các em được chú thương yêu và thuê người giám hộ tốt để dạy về chữ nghĩa và đức tính. Martinô là cậu học sinh ngoan và thông minh. Sau hai năm, cha cậu để Gioanna ở lại tiếp tục học, còn Martinô, ông bắt về ở bên mẹ tại Lima. Ông căn dặn Martinô: “Con phải học nghề hớt tóc. Cha hy vọng con sẽ cố gắng học, và cố gắng trở nên người Công giáo tốt”. Martinô đã vâng lời cha và cố gắng học cũng như sống đạo tốt.
Thời đó và trong hoàn cảnh sống tại Lima, thợ hớt tóc đồng thời cũng là “thầy lang”. Họ phải học biết các kiến thức y học phổ thông, như biết bắt mạch chẩn bệnh, biết băng bó vết thương, biết chữa các bệnh cảm cúm, sốt rét, biết nắn khớp xương và pha thuốc. Martinô rất thích nghề này. Cậu thưa với mẹ: “Mẹ ơi, tập nghề hớt tóc là một nghề cao cả, mẹ ạ. Học nghề này con có thể giúp đỡ những người nghèo khó được nhiều, mẹ nhỉ!” Mẹ cậu khích lệ con: “Martinô, con là một đứa trẻ tốt. Xin Chúa chúc lành và luôn gìn giữ con tốt mãi như vậy!” Martinô thưa lại: “Thưa me, đó là điều con hằng cầu nguyện mỗi sáng trong thánh lễ, và Chúa đã giúp con. Ngài biến đổi con, giúp con học nghề này cho đạt kết quả tốt”.
Sau hai năm học nghề, lúc 12 tuổi, Martinô vui vẻ và hăng say hành nghề. Mỗi sáng, cậu tham dự Thánh lễ, có khi giúp lễ nhiều bao nhiêu có thể, tại nhà thờ Thánh Ladarô. Sau đó, mang đồ nghề đi rảo quanh khắp xóm dân nghèo, tới đến với những người già yếu, tàn tật để săn sóc bệnh tật cho họ mà không lấy công. Nhiều đêm cậu cũng phải thức để chăm sóc các con bệnh đang cần đến cậu. Nhất là những người hấp hối cần cậu ở bên khích lệ họ tin tưởng vào Chúa, và giúp họ dâng lên Ngài những bệnh tật đau khổ.
Năm lên 15, Martinô xin mẹ dẫn đến tu viện Mân Côi của các cha Dòng Ðaminh tại Lima để xin đi tu. Tuy mẹ mong muốn con làm linh mục hay ít là làm thầy Dòng nhưng Martinô xin mẹ ưng thuận để cậu chỉ xin làm người giúp việc trong Dòng mà thôi. Bà hỏi con: “Tại sao con không muốn làm linh mục hoặc thầy Dòng, mà lại chỉ muốn làm người giúp việc thôi?” Cậu thưa: “Vì con không muốn trở nên người quan trọng. Con chỉ muốn chu toàn những việc tầm thường vì yêu mến Chúa. Xin mẹ vui lòng chấp nhận ước nguyện của con!” Bà quyết định: “Ðược rồi, xin Chúa chúc lành cho con; còn trong tu viện, con muốn ở bậc nào tùy ý con chọn, mẹ chỉ xin con nhớ cầu nguyện cho mẹ”. Trước đây cha Tu viện trưởng cũng đã nhiều lấn nghe biết về cậu Martinô, nên người đã ưng thuận. Thế là Martinô được gia nhập tu viện, mang y phục người giúp việc trong Dòng Ðaminh. Cậu cảm thấy mình đã được thuộc trọn về Chúa và Ðức Mẹ.
Trong bậc giúp việc, Martinô dảm nhận nhiều công tác, như hớt tóc, coi nhà giặt, phụ trách phòng y tế, Martinô rất vui trong việc phụng vụ tha nhân. Bệnh nhân đầu tiên trong Dòng mà Martinô săn sóc, đó là Cha Phêrô. Một chân cha bị thương và lại bị nhiễm trùng, cần phải giải phẫu và cưa chân để cứu sinh mạng. Vì quá đau nên Cha Phêrô có phần bất nhẫn. Tới bữa, Martinô dọn một đĩa rau tươi với những trái ôliu thật ngon mang tới Cha. Ðến phòng, Maritnô gõ cửa. Có tiếng từ trong đáp ra: “Ði chỗ khác, để cho tôi yên”. Bất kể tiếng la quát cứng cỏi của Cha, cậu cứ điềm tĩnnh đẩy cửa bước vào. Với giọng săn sóc cậu hỏi: “Cha Phêrô ơi, Cha có thích dùng chút rau tươi tuyệt ngon này không?” Cha Phêrô mở to đôi mắt ngạc nhiên: “Sao lại không? Tôi đang thèm rau tươi đây. Sao cậu đoán được ý tôi?” Cha Phêrô ngồi dậy và dùng một cách ngon lành, “Cảm ơn Martinô nhé!” Cậu mỉm cười thưa: “Bây giờ để con thay băng cho Cha nhé?” Cha cũng mỉm cười đồng ý.
Thế là vừa thay băng Martinô vừa nói với Cha, “Thưa Cha, chắc Cha tin rằng Chúa sẽ chữa lành vết thương của Cha chứ?” “Martinô, con hãy cầu nguyện, để Chúa chữa lành vết thương của Cha! Còn Cha, dù có chết Cha cũng không muốn giải phẫu!”
Vừa ra khhi phòng Cha Phêrô, Martinô lên ngay nhà nguyện, quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm: “Lạy Chúa chí ái, xin chữa lành chân Cha Phêrô. Chúa đã từng chữa nhiều người khác, chẳng có gi mà Chúa không làm được. Con tin Chúa”. Tối hôm đó, khi Martinô trở lại thăm Cha Phêrô, cậu đã thấy Cha đang đi đi lại lại trong phòng! Vừa thấy cậu, Cha kêu lên: “Martinô, Martinô! con đã chữa lành vết thương của Cha rồi! Cha không biết phải cám ơn con thế nào. Con rời khỏi đâu chừng nửa giờ, thì chỗ bị sưng xẹp xuống và cơn đau cũng biến mất. Con vừa làm một phép lạ đó!” Martinô thưa lại, “Xin Cha đừng nói như vậy, con chỉ thay băng cho Cha thôi, chính Chúa mới làm cho vết thương Cha lành”. “Ðúng rồi, nhưng nếu con không cầu nguyện, chắc chắn Cha cũng chưa khỏi!”
Không những Martinô hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người, cậu còn săn sóc và bảo vệ sự sống của các con vật nữa. Các chú chim đến với cậu để kiếm ăn, các con mèo hoang cũng vậy. Cậu luôn dự trữ sẵn đồ ăn cho chúng. Một hôm, đàn chuột cắn đồ lễ tại Cung thánh, thầy phụ trách đã trình Cha Bề trên và xin để cậu Martinô diệt chúng, cậu bèn cầu nguyện, rồi đi lên phòng thánh. Vừa bắt gặp một chú chuột, Martinô gọi nó, nó đã ngoan ngoãn chạy lại bên cậu, Martinô nói: “Bây giờ chú hãy nghe cho kỹ... chú và các chuột khác phải rời khỏi phòng thánh này ngay, vì các chú đã cắn áo lễ. Chúa không hài lòng với các chú về việc này. Vậy các chú bảo nhau thu dọn ra ở chuồng bò. Tôi sẽ đem đồ ăn đến cho các chú. Hiểu chưa?”
Con chuột gật đầu rồi chạy mất. Một lát sau, nó dẫn một đàn chuột theo, nhắm thẳng hướng tay Martinô chỉ ra chuồng bò. Thầy phụ trách Cung thánh cũng hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến đàn chuột đang đi theo hướng tay Martinô chỉ. Thầy đã lên trình Cha Bề trên về hiện tượng lạ lùng ấy. Và từ đó, không còn thấy lũ chuột cắn đồ lễ nữa.
Chín năm Martinô ở bậc giúp việc; đến năm 1603, khi anh đã 24 tuổi, các Bề trên nhận thấy ơn Chúa thương Martinô nhiều. Anh đã khiêm nhượng xin ở bậc giúp việc chứ không dám xin ở bậc các thầy. Các Bề trên và tất cả nhà Dòng đều nhận thấy anh sống đời cầu nguyện, khiêm nhượng thống hối và bác ái gương mẫu nên đã quyết định cho anh lên bậc tu sĩ thực thụ. Bề trên gọi Martinô và bảo: “Martinô, từ nay con không còn là người giúp việc nữa. Con sẽ là một Thầy Dòng”. Martinô thưa lại, “Thưa Cha, con bất xứng!” “Việc đó Cha chịu trách nhiệm. Con hãy mời mẹ con llên đây dự lễ Mặc áo Dòng!”
Khi được tin, mẹ cậu đã hết sức vui mừng.
Sau ngày Mặc áo Dòng, Martinô đã nhận thêm những trách vụ mới, như việc săn sóc những người nghèo khó bằng những lời: “Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành, gia tăng lương thực này, và xin Người thánh hóa tất cả những ai dùng của ăn này”. Lời nguyện này luôn luôn thấy hiệu lực. Bất kể người được ít kẻ được nhiều, không một ai đến xin ăn mà phải về tay không. Ai nấy đều được no đủ và hài lòng với thầy Martinô.
Một hôm, lúc thầy Martinô đem những ổ bánh cuối cùng trong kho nhà Dòng phát cho người nghèo, làm ông giúp việc nấu bếp lo lắng. Ông chạy đến thưa Cha Bề trên, nhưng ngài điềm tĩnh đáp: “Ông đừng lo, thầy Martinô không phát hết đâu, bánh sẽ còn đủ cho cả chúng ta nữa”.
Quả đúng như lời Cha Bề trên, vì hằng ngày, không rõ số bánh thầy Martinô đã cho đi bao nhiêu, nhưng các thầy vẫn luôn luôn có đủ bánh dùng.
Thầy Martinô luôn làm các việc bình thường trở nên những việc khác thường bằng tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức, hết linh hồn” và phục vụ “yêu thương” anh em đồng bào theo giới răn bác ái của Chúa. Thầy thể hiện hai giới răn này suốt từ khi có trí khôn. Suốt hơn 45 năm sống đời khiêm hạ và bác ái trong Dòng Thánh Ðaminh tại Lima, Martinô tận tâm phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân, những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi. Thầy sống rất đẹp lòng Chúa nên Ngài đã làm bao nhiêu điều lạ lùng qua lời cầu nguyện của Thầy: như các lần thị kiến, xuất thần, đánh tội nhiệm nhặt, ở hai nơi một trật, thông hiểu thần học, làm phép lạ chữa lành bệnh nhân, cảm thông hiểu biết cũng như sai khiến được các con vật vô tri.
Thầy sống thật xứng đáng là một tu sĩ gương mẫu trong đức vâng lời trọn hảo, đức khiêm nhượng thẳm sâu, và lòng thương yêu đối với các thụ tạo của Thiên Chúa. Vị Thánh hai dòng máu Tây Ban Nha và Pêru da mầu này đã thể hiện tình yêu thương với mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da hay quốc tịch. Thầy phục vụ Chúa Kitô trong mọi người, vô điều kiện và vô giới hạn. Trong những đêm dài cầu nguyện và thông hối, Martinô được đói khát tình yêu Thiên Chúa, và trong những ngày dài Thầy dành để săn sóc các bệnh nhân, nuôi dưỡng người nghèo, thi hành các công việc lao tác của nhà Dòng với một lòng khao khát cứu rỗi các linh hồn. Ðời sống thánh thiện của Thầy khiến cho các Bề trên và cả tu viện coi Thầy như một vị linh hướng gương mẫu của họ. Chính Thầy đã khiêm nhượng tự xưng mình là “người nô lệ hèn mọn” hoặc là “con chó lai = Mulatto dog”. Nhưng người dương thời gọi Martinô là “Cha bác ái” và “Cha của người nghèo”.
Ðầu tháng 11 năm 1639, gần ngày sinh nhật thứ 60, Thầy ngã lâm trọng bệnh, suốt ba ngày chịu đau khổ cách can đảm. Trong khi đó, những người từng được Thầy săn sóc giúp đỡ, đã cầu nguyện và khóc thương Thầy bên ngoài tu viện. Ðến ngày thứ tư, bệnh tình của Thầy có phần thuyên giảm. Ðức Mẹ và Thánh Ðaminh đã hiện ra để yên ủi Thầy. Martinô đã mời Bề trên và mọi anh em trong tu viện tới. Họ đến để cầu nguyện cho Thầy trong cơn hấp hối. Cha Bề trên hỏi: “Thầy Martinô, Thầy muốn chúng tôi hát bài ca nào để tiễn đưa Thầy?” Thầy đáp lại, “Xin hát kinh Tin kính”.
Thế là toàn thể anh em cao giọng cất lên bài ca tuyên xin Ðức Tin. Tới câu “Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình” thì Thầy nhắm mắt lìa trần, linh hồn bay về với Ðấng mà các tu sĩ đang tung hô ca ngợi. Hôm đó là ngày 4 tháng 11 năm 1639.
Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã phong thánh cho Thầy Martinô đe Porres ngày 6 tháng 5 năm 1962, và gọi người là “Martinô Bác Ái”. Lễ kính Thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội được ấn định vào ngày 3 tháng 11 hằng năm

(ApLst)


AI DẠI, AI KHÔN?

Trong mấy tuần vừa qua, báo chí thế giới cũng như báo Việt Nam rất quan tâm đến cái chết của nhà lảnh đạo bị lật đổ của Liby - ông Gadaphi. Kể thì, dòng chảy cuộc đời thật khắc nghiệt, mới ngày nào còn là là một vị tổng thống đầy quyền lực, tuyên bố vung vít hùng hồn, thế mà chỉ ít lâu sau phải trốn chạy như một tội đồ của dân tộc và kết thúc bằng cái chết vô cùng nhục nhã, bị chính người dân của mình lôi ra từ miệng một ông cống nước thải của thành phố, như một con chuột và bị người ta bắn chết không thương tiếc, và thậm chí người dân còn vui mừng vì cái chết ấy như vừa loại trừ một kẻ gian

Thời gian là tổng thống cũng là thời gian ông thu tích quyền lực vào tay mình, bên cạnh đó ông đã thu tích cho mình và gia đình một khối lượng tài sản không lồ, ông là người giàu hơn cả ông hoàng Ả rập Abdulla, và giàu gấp ba lần người giàu nhất thế giới, ông cũng chuẩn bị cho mình những tòa lâu đài sang trọng ở ngoãi quốc để chờ ngày về hưu, nhưng rất tiếc ông không được hưởng.
Báo Việt Nam có bài viết phê bình ông là người không khôn ngoan không thức thời, vì lần này ông không biết nắm bắt cơ hội, khi ông đòi đương đầu với nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, khi người ta mở cho ông một con đường sống cùng với gia đình bằng việc đi tỵ nạn ở một nước khác, ông đã không chấp nhận, ông chỉ lo gìn giữ tài sản, quyền lực mà không lo gìn giữ mạng sống của mình, để đến khi mạng sống chẳng còn thì tài sản để cho ai?
Thưa quý OBACE, Lời Chúa hôm này cũng nói cho chúng ta về cái khôn và cái dại thực sự trong cuộc đời. Có những người cứ tưởng mình khôn, thì thực ra đang là những kẻ dại dột, còn có những người xem như là dại dột, ấy lại là kẻ khôn. Câu chuyện mười trinh nữ đi đón chàng rể trong Tin mừng hôm nay cho thấy điều đó. Đối với các cô phụ dâu, thì việc đón chàng rể và dự tiệc cưới là mục tiêu chính và là niềm hy vọng đợi chờ của họ, thế nhưng trong thời gian chờ đợi mỗi người có cách riêng của mình, người khôn ngoan là người biết chuẩn bị những gì là chính yếu, còn người khờ dại là người chuẩn bị những cái tùy phụ hoặc là không chuẩn bị gì.
Câu chuyện cho thấy tất cả mười cô trinh nữ đều có thời gian đợi chờ như nhau, nhưng khác rằng các cô khôn thì chuẩn bị thật kỹ cho chiếc đèn của mình và còn biết lo xa để chuẩn bị cả một bình dầu dự trữ, vì chắc chắn rằng chàng rể sẽ đến ban đêm; còn những cô dại khờ thì có lẽ chỉ lo chuẩn bị quần áo và những cái trang điểm bên ngoài, mà quên chuẩn bị cho chiếc đèn của mình, đến độ mang đèn mà không nmang dầu theo. Cuộc sống cũng vẫn trôi qua như nhau, cả cô dại và các cô khôn đều thiếp ngủ vì mệt mỏi, điều đó không có gì là sai trái, thế nhưng giờ phút long trọng và quyết định đã đến, đó là lúc chàng rể xuất hiện, lúc ấy, câu chuyện không hề nói đến việc chuẩn bị trang điểm hay quần áo, mà chỉ nói đến, mọi người chuẩn bị đèn của mình. Đến lúc này mới thấy là ai khôn và ai dại, ngọn đèn của các cô khôn vẫn còn cháy sáng còn ngọn đèn của các cô dại đã tắt từ lâu, các cô đã đánh mất cơ hội gia nhập vào đoàn rước chàng rể và dự tiệc hạnh phúc.
Có một điều chắc chắn, là vào phút giây long trọng ấy, không ai có thể giúp họ được, các cô khờ dại không thể xin dầu của ai được, các cô phải tự mình ra cửa hàng để mua, khi trở về thì cơ hội đã không còn và cửa phòng tiệc hạnh phúc đã đóng lại. Đau đớn cho cho các cô hơn nữa, khi các cô quay lại gõ cửa, thì được nghe một lời từ chối lạnh lùng: Tôi không biết các ngươi là ai! Như thế, thì khôn hay dại đã rõ, người khôn không phải là người biết lo xa và tích trử cho mình của cải vất chất hay quyền lực, mà là người biết xác định cùng đích cuộc đời của mình và chuẩn bị những gì cần thiết để đại được cùng đích đó. Cùng đích cuộc đời con người chắc chắn không phải là của cải vất chất ở thế gian này, mà chỉ có Thiên Chúa và hạnh phúc nước trời đời đời mới là cùng đích của chúng ta, vì vậy hãy chuẩn bị cho cùng đích ấy. Còn ngược lại, người khờ dại là người không xác định được cùng đích đời mình, nên không biết phải chuẩn bị những gì, hoặc họ chọn thế gian là cùng đích nên họ chỉ biết tìm kiếm những của thế gian mà thôi, và như thế, ngày chàng rể đến, tức là ngày cuối cùng cuộc đời của họ, những thứ họ tìm kiếm và chuẩn bị kia sẽ không thể đem theo và cũng không có ích gì.
Dù muốn hay không muốn, thì ai cũng phải đối diện với ngày cuối cùng của mình tức là giờ chết, phút giây ấy không ai giúp được mình, tất cả chúng ta đều có chung một điểm hẹn là cái chết. Ngày xưa, những người Thesalonica thắc mắc với Thánh Phaolô về số phận của những người đã chết sẽ như thế nào? Thánh Phaolô đã trả lời thật rõ ràng: Tất cả những người tin vào Danh Chúa Giêsu và sự Phục sinh của Ngài sẽ được đưa về sống cùng Đức Giêsu, còn chúng ta là những người đang sống, chúng ta cũng sẽ phải trải qua cái chết để đợi chờ ngày mà tiếng loa của các Thiên thần vang lên, thì tất cả đều chỗi dậy đi đón Đức Kitô, và vào hưởng vinh quang với Ngài. Tuy nhiên không phải tất cả đều được tham dự vào đòan rước này, mà có người sẽ không đủ điều kiện, hay nói đúng hơn đã không đủ dầu cho chiếc đèn của mình, thì sẽ bị loại ra ngoài.
Ngọn đèn ở đây chính là ngọn đèn đức tin, dầu ở đây chính là lòng yêu mến đối với Chúa, sự nhiệt thành và tình yêu thương bác ái mà mỗi người dành cho anh em mình, vì chỉ có thứ dầu này mới có thể thắp sáng được ngọn đèn Kitô hữu của chúng ta. Chiếc đèn này không thể thắp sáng bằng của cải tiền bạc, vật chất, nhà cửa đất đai, mà chỉ được thắp bằng lòng yêu mến như vừa nói mà thôi. Và như thế, người khôn ngoan là người biết chuẩn bị cho mình ngay từ hôm nay, chứ không thể chần chờ hay ỷ nại vào người khác.
Thưa quý OBACE, khôn cũng có nhiều thứ khôn, có cái khôn lỏi, có cái khôn vặt, có cái khôn ăn người, khôn trong kinh doanh, trong giao tiếp… Nhưng đối với Thiên Chúa đó không phải là cái khôn thật. Cái khôn mà Lời Chúa nói đến hôm nay là cái KHÔN NGOAN như bài đọc một nói đến, đó là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa, cái khôn ngoan này vừa là một đức tính vừa là chính Thiên Chúa, ai tìm Đức Khôn Ngoan thì Đức Khôn Ngoan cho gặp và hướng dẫn mọi nẻo đường đi của người ấy, ai để tâm suy niệm và tìm kiếm thì sẽ được thỏa mãn. Nói rõ hơn, người khôn ngoan là người biết tìm kiếm Thiên Chúa và hạnh phúc Nước trời, ai để tâm lắng nghe Lời Chúa hướng dẫn và để tâm suy gẫm và thực hành thì người đó thực sự là người khôn ngoan và Chúa sẽ đồng hành với họ và chỉ cho cho họ biết cách sống.
Suy niệm Lời Chúa hôm nay, một câu hỏi đặt ra cho chúng ta, đó là: Hiện nay tôi là người khờ dại hay là người khôn ngoan? Tôi khôn theo kiểu người đời là tìm kiếm và tích trữ cho mình của cải quyền lực như ông Gadaphi hay là tôi khôn ngoan theo cái nhìn của Chúa là tìm kiếm hạnh phúc đời đời?
Nhìn lại mình mới thấy rằng, từ trước đến này, có khi ta cứ tưởng mình là người khôn ngoan giỏi giang, vì thấy mình làm ăn thành công, được mọi người nể trọng, tiền bạc nhà cửa đất đai không thiếu, nhưng thực ra ta quá khờ dại, vì cho đến giờ này thử kiểm tra lại, thì bình dầu cuộc đời đã quá cạn vơi vì ta đã vô tình không tích trữ lòng yêu mến Chúa và tình bác ái với anh em, chiếc đèn đức tin đã lâu ngày không được lau chùi bằng các Bí tích nên nó đã trở nên cũ kỹ leo lét, có khi đã tắt lạnh từ lâu. Rất may, hôm nay là dịp Chúa nhắc cho chúng ta để kiểm tra lại dầu đèn cuộc đời và còn cho ta cơ hội đề sửa chữa, để chuẩn bị, vì thế mà hãy can đảm để dừng lại, để nắm bắt cơ hội này, siêng đến với Chúa nhiều hơn qua việc tham dự Thánh lễ và tiệc Thánh Thể để bơm dầu cho chiếc đèn cuộc đời của mình, hãy làm nhiều việc bác ái, việc công đức để thu tích năng lượng dự trữ cho ngày quan trọng nhất của cuộc đời đó là ngày chàng rể Giêsu sẽ đến với mỗi chúng ta vào lúc chúng ta không ngờ và vào giờ chúng ta không biết.
Khi biết chuẩn bị như vừa nói thì dù Chúa đến bất cứ lúc nào, lúc chập tối hay nửa đêm, chúng ta cũng sẵn sàng thắp sáng ngọn đèn của mình để ra trình diện với Chúa và được đưa vào dự tiệc hạnh phúc đời đời. Amen


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí - GP. Xuân Lộc
 

 
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Đỗ Đức Trí


CON CHỈ LÀ MỘT TÊN MỌI ÐEN


Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Martinô Porres.
Nhắc đến thánh nhân, người ta thường liên tưởng đến những ơn lạ lùng như xuất thần ngất trí trong khi cầu nguyện, như hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, hoặc như có thể trò chuyện và điều khiển cả thú vật.
Vị thánh có lòng bác ái cao độ này lại xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Là con của một thiếu nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban Nha, Martinô đã được vị linh mục Rửa Tội ghi trong sổ bộ của giáo xứ là "con không cha". Quả thật, con không cha như nhà không nóc. Martinô đa lớn lên trong cảnh thiếu vắng tình cha mãi cho đến năm 8 tuổi. Nhưng sau khi được chính thức thừa nhận không bao lâu, thì người cha lại bỏ rơi gia đình. Một lần nữa, cậu bé Martinô lại rơi vào cảnh khốn khổ như đa số các em bé nghèo của thành phố Lima, Pêru vào giữa thế kỷ thứ 16.
Nhưng cảnh nghèo ấy đã không gieo vào lòng cậu bé mang hai dòng máu này chút đắng cay nào. Trái lại, cậu tiếp nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống như một thách đố, như một ân sủng. 
Năm 12 tuổi, Martinô đã được học nghề hớt tóc và đôi chút xảo thuật của ngành giải phẫu. Vừa hành nghề như một người thợ hớt tóc, vừa như một y tá, Martinô đã đem hết sự hăng say và tận tụy của mình để phục vụ những người nghèo đồng cảnh ngộ.
Nhưng nhận thấy chỉ có thể sống trọn Ðức Ái trong một tu viện, Martinô đã đến gõ cửa một nhà dòng Ðaminh để xin được làm trợ sĩ trong nhà� Bí quyết nên thánh của thầy Martinô là sám hối cầu nguyện và phục vụ, nhất là phục vụ trong những công việc vô danh nhất. Lần kia, nhà dòng mang nợ đến độ không thể bảo đảm được các nhu cầu của các tu sĩ, thầy Martinô đã đến thưa với Bề trên như sau: "Thưa cha, con chỉ là tên mọi đen. Xin hãy bán con đi". 
Sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho người khác, thầy Martinô cũng luôn nhận tất cả phần lỗi về mình. 
Ôn lại gương hy sinh, cầu nguyện và bác ái của thánh Martinô, không những chúng ta chỉ chạy đến xin ngài bầu cử trong những lúc gặp gian nan thử thách, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là lòng tin thác vào Chúa quan phòng của thánh nhân mà chúng ta cần học hỏi, nhất là trong giai đoạn gặp khó khăn này. 
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ðó phải là niềm xác tín của chúng ta. Một Thiên Chúa quan phòng là Ðấng có thể biến tất cả những đắng cay, buồn phiền, thất bại, khổ đau trong cuộc sống con người thành khởi đầu của một nguồn ơn cao quí hơn. Cũng như loài ong chỉ rút mật ngọt từ bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, cũng thế, người có niềm tin luôn có thể rút tỉa được những sức đẩy mới từ những thất bại rủi ro trong cuộc sống. Thánh Martinô đã không hận đời đen bạc vì bị người cha bỏ rơi, mà trái lại xem đó như một dịp may để cảm thông, để học hỏi và để phục vụ người khác hữu hiệu hơn. "Hạt lúa rơi xuống đất có mục nát đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt". Ðó là định luật của cuộc sống. Thập giá trong cuộc sống thường là khởi đầu và cơ may cho một vươn lên cao hơn. 
Chúng ta thường chạy đến khẩn cầu với thánh Martinô trong cơn hoạn nạn thử thách, chúng ta cũng hãy noi gương ngài để phó thác cho Tình Yêu quan phòng của Chúa, và nhất là xin Ngài cũng giúp chúng ta luôn biết lấy Tình Thương để thắng vượt những ngược đãi của người đời, cũng luôn biết sẵn sàng phục vụ và phục vụ bằng chính mạng sống của mình.



Tác giả Veritas