Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

3 tháng 2, 2012

Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho thấy nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu với khởi đầu là cầu nguyện, rao giảng và chữa lành thể xác tâm hồn cho con người. Một ngày thật bận rộn với biết bao công việc: Giảng dạy trong hội đường rồi đến nhà chữa bệnh cho nhạc mẫu Phêrô; Buổi chiều cho đến tối mịt, Chúa chữa lành dân chúng đủ loại bệnh hoạn tật nguyền; Sáng sớm tinh mơ, Chúa dành thời gian đẹp nhất một ngày mới để cầu nguyện cùng Chúa Cha.


Công việc bề bộn mỗi ngày của Chúa Giêsu tạo nên khuôn mẫu cho tất cả các môn sinh trong nhịp sống thường ngày.

1. Cầu nguyện:
“Sáng sớm, Chúa Giêsu tìm nơi thanh vắng cầu nguyện” (1,35). Suốt ngày lo toan với bao nhiêu là công việc, tiếp xúc đủ thứ hạng người, Chúa Giêsu dành buổi sáng tinh mơ để tâm sự trao đổi với Cha. Cầu nguyện là nhu cầu thật sự của Chúa Giêsu. Người cần có thời gian sống riêng tư một mình. Người cần sống bên Cha, tâm sự về gánh nặng công việc, về nổi đau khổ của loài người, về cuộc chiến chống Satan. Người thấy mình cần được Cha cảm thông và nâng đỡ, cần ánh sáng và nghị lực để làm tròn sứ mạng.Người cầu nguyện vì yêu mến, khao khát được kết hiệp với Cha. Một ngày mới khởi đầu như thế để múc nguồn sức mạnh cho hoạt động truyền giáo.

2. Rao giảng
Việc quan trọng thứ hai là rao giảng Tin mừng. “Ngày Sabát, Chúa Giêsu vào hội đường giảng dạy”(1,21). Người  đọc Sách Thánh và giải nghĩa. “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền” (1,22). Cả phương pháp và bầu khí giảng dạy của Người đều như một sự mạc khải mới mẻ. Chúa giảng với một uy quyền vượt xa các luật sĩ kinh sư thời đó. Chúa giảng như Đấng có thẩm quyền của chính Thiên Chúa tối cao. Chúa hoàn toàn độc lập khi giảng dạy. Người không trích dẫn, không dựa vào thế giá một chuyên viên nào. Vì thế, giáo lý của Chúa mới mẻ, người nghe đón nhận như luồng gió mát dịu từ thiên đàng thổi tới, lòng người cảm mến hân hoan, tâm hồn rộng mở hướng về trời cao với Chúa Cha.
Trong Bài Đọc II, Thánh Phaolô nói đến bổn phận rao giảng Phúc Âm mà ngài đã lãnh nhận. Thánh nhân đã chu toàn và để công cuộc rao giảng được kết quả, “tôi đã trở nên yếu đuối với người yếu đuối… trở nên mọi sự cho mọi người.”

3. Chữa lành thể xác tâm hồn.
Lời giảng dạy thể hiện bằng hành vi yêu thương. Lời nói đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức thuyết phục. “Ra khỏi hội đường, Chúa Giêsu vào nhà ông Simon… Bà nhạc của ông Simon đang bị sốt. Chúa Giêsu đến bên giường, cầm tay bà mà đỡ dậy;cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài” (1,29-31).Chúa Giêsu làm một cử chỉ thân ái là cầm lấy tay bà và nâng dậy, như sau này Người cầm tay đứa con gái ông trưởng hội đường, một cô bé mười hai tuổi đã chết lại đứng dậy được (Mc 5,41), như sau này Người cầm tay cậu bé bị động kinh nằm trên đất, nâng cậu dậy và cho cậu đứng lên (Mc 9,27).
“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người” (1,32). Căn nhà ông Simon nhỏ hẹp, các bệnh nhân phải đứng thành nhiều vòng bên ngoài chờ đợi đến lượt mình. Tất cả đều được Chúa chữa lành.
Tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca cũng có cùng một cảm nghiệm đó khi nói: “Chính Người chữa những kẻ dập nát tâm can, và băng bó vết thương tâm của họ”. Thánh Phêrô trong sách Công vụ Tông đồ cũng đã làm chứng: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,38).

Bệnh tật đeo đuổi con người như hình với bóng. Người ta tìm ra phương cách chữa được bệnh này thì bệnh khác lại xuất hiện. Càng ngày nhiều căn bệnh mới càng khó trị và bất trị cho dù y học hiện đại tiến bộ vượt bậc. Chúa Giêsu đụng chạm đến biển khổ của nhân loại. Người không mong múc cạn, chỉ mong làm vơi đi, chỉ mong cùng chia sẻ và ban cho nó một ý nghĩa.

Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu đầy ắp yêu thương trong mọi công việc phục vụ. Người có một trái tim rung động luôn “chạnh lòng thương”, có một tấm lòng bao dung vô bờ bến. Rao giảng Tin Mừng yêu thương, làm phép lạ chữa lành, mở rộng vòng tay đón nhận và tha thứ những kẻ tội lỗi. Chúa chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn con người.
Gặp Chúa, những ai sống ích kỷ đều trở nên quãng đại, những ai ghen ghét hận thù đều trở thành yêu thương tha thứ. Gặp Chúa, con người tìm được mùa xuân cuộc đời.

4. Một ngày làm việc của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI

5:30 sáng: Khi công trường Thánh Phêrô còn đang yên tĩnh trong bầu khí buổi sáng sớm của thành Rôma và chờ đợi những đoàn du khách sẽ lần lượt kéo đến, trên tầng thứ ba của tòa nhà nơi Đức Giáo Hoàng cư ngụ và làm việc, người ta thấy ánh sáng đèn bắt đầu chiếu lên; đó là lúc Đức Giáo Hoàng thức dậy và bắt đầu một ngày mới với những giờ phút cầu nguyện và tĩnh tâm sáng.

7:00 sáng: Đức Giáo Hoàng dâng Thánh Lễ tại nhà nguyện riêng cùng với sự hiện diện của hai Đức Ông Goerg Gaenswein và Alfred Zuereb (hai vị Thư Ký của Đức Giáo Hoàng) và bốn người giúp việc. Thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì thường có thêm một số khách được vào cùng dâng lễ.

8:30 sáng: Đức Giáo Hoàng làm việc tại Văn phòng riêng. Nếu trời tốt, cửa sổ nhìn ra công trường Thánh Phêrô sẽ mở (chính từ cửa sổ này, vào mỗi trưa Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nguyện kinh Truyền Tin cùng với các khách hành hương tụ tập tại công trường Thánh Phêrô phía dưới). Một trong hai Đức Ông Thư ký sẽ đem đến cho Đức Giáo Hoàng tập các văn kiện, bản tóm lược các tin tức quan trọng trên thế giới, chương trình làm việc trong ngày, những người Ngài sẽ gặp và những đề tài chính sẽ đề cập đến.

11:00 Trưa: Đức Giáo Hoàng xuống phòng tiếp tân ở tầng hai để tiếp các vị thủ lãnh các quốc gia, các vị Giám Mục, các nhân vật quan trọng… đã được sắp xếp theo chương trình. Sau đó Ngài tiếp các khách đến viếng thăm tại thư viện riêng.

1:30 Trưa: Đức Giáo Hoàng dùng bữa trưa đơn giản tại phòng ăn ở tầng ba với các viên chức hoặc đôi khi có khách được mời. Sau đó Đức Giáo Hoàng thường chơi Piano, đặc biệt những bản của Mozart, rồi đi dạo một chút trước khi nghỉ trưa.

3:30 Chiều: Đức Giáo Hoàng lại làm việc tại văn phòng để duyệt lại các văn kiện và các bài diển văn.

Vào Mùa Đông từ 4:00 đến 4:45 chiều (vào mùa Hè từ 6:45 đến 7:30), Ngài ra vườn để đi dạo với hai vị thư ký.

6:00 Chiều: Ngài gặp gỡ tại văn phòng riêng, các vị cố vấn thân cận, như các Đức Hồng Y, các Giám Mục Tổng Trưởng, Tổng Thư Ký các Bộ tại Tòa Thánh.

7:30 Tối: Đức Giáo Hoàng ăn bữa tối, xem tin tức trên truyền hình. Sau đó Ngài vào Nhà Nguyện để cầu nguyện trong yên lặng ban đêm.

Khi chuông Đại Thánh Đường Thánh Phêrô điểm 11 giờ đêm, đèn phòng ngủ của Đức Giáo Hoàng tắt và Ngài bắt đầu nghỉ đêm. ( x.Vietcatholic, 19/06/2008, Lm Anphong Trần Đức Phương Phỏng theo Isabelle de Gaulmyn, “A day in the life of the Pope” trong Catholic Digest April 2008).

Ngày làm việc bận rộn của Chúa Giêsu, ngày làm việc của Đức Giáo Hoàng đều đầy ắp niềm vui cầu nguyện và hoạt động. Đó chính là khuôn mẫu cho mọi tín hữu.
Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (Ecclesia in Asia, 1999) nói đến đời sống cầu nguyện và hoạt động của mọi tín hữu: Muốn có một đời sống Kitô hữu đích thực, mọi người cần xác tín rằng: việc truyền giáo vừa là một hoạt động có chiêm niệm, vừa là một chiêm niệm có hoạt động (số 23).
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo xác định: “cầu nguyện thế nào thì sống như vậy” (số 2725).

Một ngày sống khởi đầu với kinh nguyện, thánh lễ, chúng ta được gia tăng lòng Tin Cậy Mến, nhờ đó mà nhiệt thành làm mọi việc trong ngày sáng danh Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu
CN V B

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho thấy nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu với khởi đầu là cầu nguyện, rao giảng và chữa lành thể xác tâm hồn cho con người. Một ngày thật bận rộn với biết bao công việc: Giảng dạy trong hội đường rồi đến nhà chữa bệnh cho nhạc mẫu Phêrô; Buổi chiều cho đến tối mịt, Chúa chữa lành dân chúng đủ loại bệnh hoạn tật nguyền; Sáng sớm tinh mơ, Chúa dành thời gian đẹp nhất một ngày mới để cầu nguyện cùng Chúa Cha.

Công việc bề bộn mỗi ngày của Chúa Giêsu tạo nên khuôn mẫu cho tất cả các môn sinh trong nhịp sống thường ngày.

1. Cầu nguyện:
“Sáng sớm, Chúa Giêsu tìm nơi thanh vắng cầu nguyện” (1,35). Suốt ngày lo toan với bao nhiêu là công việc, tiếp xúc đủ thứ hạng người, Chúa Giêsu dành buổi sáng tinh mơ để tâm sự trao đổi với Cha. Cầu nguyện là nhu cầu thật sự của Chúa Giêsu. Người cần có thời gian sống riêng tư một mình. Người cần sống bên Cha, tâm sự về gánh nặng công việc, về nổi đau khổ của loài người, về cuộc chiến chống Satan. Người thấy mình cần được Cha cảm thông và nâng đỡ, cần ánh sáng và nghị lực để làm tròn sứ mạng.Người cầu nguyện vì yêu mến, khao khát được kết hiệp với Cha. Một ngày mới khởi đầu như thế để múc nguồn sức mạnh cho hoạt động truyền giáo.

2. Rao giảng
Việc quan trọng thứ hai là rao giảng Tin mừng. “Ngày Sabát, Chúa Giêsu vào hội đường giảng dạy”(1,21). Người  đọc Sách Thánh và giải nghĩa. “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền” (1,22). Cả phương pháp và bầu khí giảng dạy của Người đều như một sự mạc khải mới mẻ. Chúa giảng với một uy quyền vượt xa các luật sĩ kinh sư thời đó. Chúa giảng như Đấng có thẩm quyền của chính Thiên Chúa tối cao. Chúa hoàn toàn độc lập khi giảng dạy. Người không trích dẫn, không dựa vào thế giá một chuyên viên nào. Vì thế, giáo lý của Chúa mới mẻ, người nghe đón nhận như luồng gió mát dịu từ thiên đàng thổi tới, lòng người cảm mến hân hoan, tâm hồn rộng mở hướng về trời cao với Chúa Cha.
Trong Bài Đọc II, Thánh Phaolô nói đến bổn phận rao giảng Phúc Âm mà ngài đã lãnh nhận. Thánh nhân đã chu toàn và để công cuộc rao giảng được kết quả, “tôi đã trở nên yếu đuối với người yếu đuối… trở nên mọi sự cho mọi người.”

3. Chữa lành thể xác tâm hồn.
Lời giảng dạy thể hiện bằng hành vi yêu thương. Lời nói đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức thuyết phục. “Ra khỏi hội đường, Chúa Giêsu vào nhà ông Simon… Bà nhạc của ông Simon đang bị sốt. Chúa Giêsu đến bên giường, cầm tay bà mà đỡ dậy;cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài” (1,29-31).Chúa Giêsu làm một cử chỉ thân ái là cầm lấy tay bà và nâng dậy, như sau này Người cầm tay đứa con gái ông trưởng hội đường, một cô bé mười hai tuổi đã chết lại đứng dậy được (Mc 5,41), như sau này Người cầm tay cậu bé bị động kinh nằm trên đất, nâng cậu dậy và cho cậu đứng lên (Mc 9,27).
“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người” (1,32). Căn nhà ông Simon nhỏ hẹp, các bệnh nhân phải đứng thành nhiều vòng bên ngoài chờ đợi đến lượt mình. Tất cả đều được Chúa chữa lành.
Tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca cũng có cùng một cảm nghiệm đó khi nói: “Chính Người chữa những kẻ dập nát tâm can, và băng bó vết thương tâm của họ”. Thánh Phêrô trong sách Công vụ Tông đồ cũng đã làm chứng: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,38).

Bệnh tật đeo đuổi con người như hình với bóng. Người ta tìm ra phương cách chữa được bệnh này thì bệnh khác lại xuất hiện. Càng ngày nhiều căn bệnh mới càng khó trị và bất trị cho dù y học hiện đại tiến bộ vượt bậc. Chúa Giêsu đụng chạm đến biển khổ của nhân loại. Người không mong múc cạn, chỉ mong làm vơi đi, chỉ mong cùng chia sẻ và ban cho nó một ý nghĩa.

Nhịp sống mỗi ngày của Chúa Giêsu đầy ắp yêu thương trong mọi công việc phục vụ. Người có một trái tim rung động luôn “chạnh lòng thương”, có một tấm lòng bao dung vô bờ bến. Rao giảng Tin Mừng yêu thương, làm phép lạ chữa lành, mở rộng vòng tay đón nhận và tha thứ những kẻ tội lỗi. Chúa chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn con người.
Gặp Chúa, những ai sống ích kỷ đều trở nên quãng đại, những ai ghen ghét hận thù đều trở thành yêu thương tha thứ. Gặp Chúa, con người tìm được mùa xuân cuộc đời.

4. Một ngày làm việc của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI

5:30 sáng: Khi công trường Thánh Phêrô còn đang yên tĩnh trong bầu khí buổi sáng sớm của thành Rôma và chờ đợi những đoàn du khách sẽ lần lượt kéo đến, trên tầng thứ ba của tòa nhà nơi Đức Giáo Hoàng cư ngụ và làm việc, người ta thấy ánh sáng đèn bắt đầu chiếu lên; đó là lúc Đức Giáo Hoàng thức dậy và bắt đầu một ngày mới với những giờ phút cầu nguyện và tĩnh tâm sáng.

7:00 sáng: Đức Giáo Hoàng dâng Thánh Lễ tại nhà nguyện riêng cùng với sự hiện diện của hai Đức Ông Goerg Gaenswein và Alfred Zuereb (hai vị Thư Ký của Đức Giáo Hoàng) và bốn người giúp việc. Thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì thường có thêm một số khách được vào cùng dâng lễ.

8:30 sáng: Đức Giáo Hoàng làm việc tại Văn phòng riêng. Nếu trời tốt, cửa sổ nhìn ra công trường Thánh Phêrô sẽ mở (chính từ cửa sổ này, vào mỗi trưa Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nguyện kinh Truyền Tin cùng với các khách hành hương tụ tập tại công trường Thánh Phêrô phía dưới). Một trong hai Đức Ông Thư ký sẽ đem đến cho Đức Giáo Hoàng tập các văn kiện, bản tóm lược các tin tức quan trọng trên thế giới, chương trình làm việc trong ngày, những người Ngài sẽ gặp và những đề tài chính sẽ đề cập đến.

11:00 Trưa: Đức Giáo Hoàng xuống phòng tiếp tân ở tầng hai để tiếp các vị thủ lãnh các quốc gia, các vị Giám Mục, các nhân vật quan trọng… đã được sắp xếp theo chương trình. Sau đó Ngài tiếp các khách đến viếng thăm tại thư viện riêng.

1:30 Trưa: Đức Giáo Hoàng dùng bữa trưa đơn giản tại phòng ăn ở tầng ba với các viên chức hoặc đôi khi có khách được mời. Sau đó Đức Giáo Hoàng thường chơi Piano, đặc biệt những bản của Mozart, rồi đi dạo một chút trước khi nghỉ trưa.

3:30 Chiều: Đức Giáo Hoàng lại làm việc tại văn phòng để duyệt lại các văn kiện và các bài diển văn.

Vào Mùa Đông từ 4:00 đến 4:45 chiều (vào mùa Hè từ 6:45 đến 7:30), Ngài ra vườn để đi dạo với hai vị thư ký.

6:00 Chiều: Ngài gặp gỡ tại văn phòng riêng, các vị cố vấn thân cận, như các Đức Hồng Y, các Giám Mục Tổng Trưởng, Tổng Thư Ký các Bộ tại Tòa Thánh.

7:30 Tối: Đức Giáo Hoàng ăn bữa tối, xem tin tức trên truyền hình. Sau đó Ngài vào Nhà Nguyện để cầu nguyện trong yên lặng ban đêm.

Khi chuông Đại Thánh Đường Thánh Phêrô điểm 11 giờ đêm, đèn phòng ngủ của Đức Giáo Hoàng tắt và Ngài bắt đầu nghỉ đêm. ( x.Vietcatholic, 19/06/2008, Lm Anphong Trần Đức Phương Phỏng theo Isabelle de Gaulmyn, “A day in the life of the Pope” trong Catholic Digest April 2008).

Ngày làm việc bận rộn của Chúa Giêsu, ngày làm việc của Đức Giáo Hoàng đều đầy ắp niềm vui cầu nguyện và hoạt động. Đó chính là khuôn mẫu cho mọi tín hữu.
Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (Ecclesia in Asia, 1999) nói đến đời sống cầu nguyện và hoạt động của mọi tín hữu: Muốn có một đời sống Kitô hữu đích thực, mọi người cần xác tín rằng: việc truyền giáo vừa là một hoạt động có chiêm niệm, vừa là một chiêm niệm có hoạt động (số 23).
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo xác định: “cầu nguyện thế nào thì sống như vậy” (số 2725).

Một ngày sống khởi đầu với kinh nguyện, thánh lễ, chúng ta được gia tăng lòng Tin Cậy Mến, nhờ đó mà nhiệt thành làm mọi việc trong ngày sáng danh Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

KIẾP NGƯỜI

(Chúa Nhật V Thường Niên, năm B)

Sách Huấn ca gọi con người là “kiếp khốn khổ”: “Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trầnđương nhiên phải trả. Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ” (Hc 40,1-4). Nghe mà “não lòng” quá! Tuy nhiên, “Chúa vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí. Người vẫn nhớ thân phận chúng bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về” (Tv 78,38-39).

GIAN KHỔ

Ông Gióp đặt vấn đề: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7,1), và đó cũng chính là câu trả lời. Ông so sánh: “Tựa người nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công. Gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề” (G 7,2-3).Đó là thực tế của kiếp người, vì ai sinh ra cũng tay trắng và khi chết ai cũng trắng tay, thế mà người ta vẫn tìm cách giành giật và kèn cựa nhau đủ cách -thậm chí có thể giết người để mình hưởng lợi!

Kiếp người như giọt nước mắt, buồn nhiều hơn vui, và luôn bị giằng co dữ dội, như Thánh Phaolô thú thật: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,9). Trong ca khúc “Một cõi đi về”, cố Ns. Trịnh Công Sơn cũng trăn trở: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Và rồi ông lại tự nhủ: “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!”. Hoặc như cố Ns. Y Vân than thở: “Buồn như ly rượu đầy, không có ai cùng cạn. Buồn như ly rượu cạn, không còn rượu để say”. Còn Thi sĩ Cao Bá Quát có cái nhìn khác: “Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy? Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”.
Ông Gióp tiếp tục băn khoăn: “Vừa nằm xuống, tôi đã nhủ thầm: “Khi nào trời sáng?” Mới thức dậy, tôi liền tự hỏi: “Bao giờ chiều buông?” Mãi tới lúc hoàng hôn, tôi chìm trong mê sảng” (G 7,4). Lý do? Vì “thịt tôi chai ra, giòi bọ lúc nhúc, da tôi nứt nẻ, máu mủ đầm đìa. Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng” (G 7,5-6). Và ông chỉ còn biết cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ” (G 7,7). Tín thác vào Chúa thì mới khả dĩ an tâm mà sống, và khả dĩ cảm tạ Chúa trong mọi sự:

Cảm tạ Ngài đã để con sống nghèo thê thảm
Nhờ đó con mới cảm nhận đêm Chúa giáng trần
Cảm tạ Ngài đã để con bị hàm oan
Nhờ đó con mới cảm nhận lúc Ngài bị xét xử
Cảm tạ Ngài đã để con bị người ta ghét bỏ
Nhờ đó con mới thấy cảm thương những người cô đơn
Cảm tạ Ngài đã để con là người bình thường
Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là mơ ước
Cảm tạ Ngài đã để con bị thua thiệt
Nhờ đó con mới biết khao khát vươn lên
Cảm tạ Ngài đã để con không hiểu thấu những điều cao siêu hơn
Nhờ đó con mới không sa vào hố kiêu ngạo
Cảm tạ Ngài đã để con được là người Công giáo
Nhờ đó con mới cảm nhận mầu nhiệm Lòng Chúa Xót Thương
Cảm tạ Ngài đã để con tha phương
Nhờ đó con mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ
Cảm tạ Ngài đã để con con mồ côi cả Cha lẫn Mẹ
Nhờ đó con mới biết trân quý tình cảm gia đình
Cảm tạ Ngài đã để con “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh
Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức.
Chính Chúa Giêsu cũng đã phải qua gian khổ mới tới vinh quang. Tất cả là hồng ân (x. Rm 4,16), nhờ Lòng Chúa Xót Thương, vì “nếu Chúa chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130,3). “Thiên Chúa giàu lòng thương xótvà rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4) cho nên “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136).

Do đó, “hãy ca ngợi Chúa đi! Đàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào! Được tán tụng Người, thoả tình biết mấy!” (Tv 147,1). Chính Chúa “chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, và băng bó cho lành những vết thương” (Tv 147,3). Chúa đã “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147,4). Chúa còn “nâng đỡ kẻ thấp hèn và hạ bọn gian ác xuống đấtđen” (Tv 147,6).

PHẦN THƯỞNG

Với kinh nghiệm đầy mình, Thánh Phaolô nói: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9,16). Vì “tự ý làm việc ấy thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công, còn nếu không tự ý thì đó là một nhiệm vụThiên Chúa giao phó” (1 Cr 9,17). Với Thánh Phaolô, phần thưởng là “rao giảng Tin Mừng không công”. Thánh Phaolô xác định: “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9,22-23). Vậy mới thực sự hành động vì sáng Danh Chúa, vì nếu không khéo thì chỉ sáng danh chúng ta mà thôi!

Có chuyện kể về Thánh Tôma Tiến sĩ (Thomas Aquinas, 1225-1274) thế này: Có tiếng nói từ Thập giá: “Tôma, con đã viết hay về Ta. Con muốn phần thưởng gì cho công việc của con”. Thánh Tôma trả lời: “Lạy Chúa, con chỉ muốn chính Ngài”. Và đó là phần thưởng tuyệt vời nhất!

Phúc Âm cho biết rằng nhạc mẫu của ông Simon đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Chúa Giêsu lại gần, “cầm tay bà mà đỡ dậy”, thếlà “cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài” (Mc 1,31). Chiều đến, khi mặt trờiđã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Chúa Giêsu chữa. Ngài đã chữa khỏi đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Ngài không cho quỷ nói, vì chúng biết Ngài là ai.

Sinh, lão, bệnh, tử là quy trình tự nhiên của con người. Đức Phật là người sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi ra khỏi hoàng cung và thấy thực tế cuộc đời, thế là ông có tứ diệuđế: sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, và khổ là khổ.

Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Chúa Giêsu đã dậy,đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó (Mc 1,35). Tĩnh lặng và cầu nguyện là hai điều cần thiết, nhất là khi thức dậy mỗi sáng, đối với những người muốn giao tiếp mật thiết với Thiên Chúa. Trước khi làm gì thì phải đắn đo suy nghĩ. Cũng vậy, trước khi hành động thì phải cầu nguyện. Các môn đệ kéo nhau đi tìm Ngài thì Ngài bảo: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1,38). Ngài đã đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ.

Chúng ta cũng có trách nhiệm rao giảng về Chúa mọi nơi và mọi lúc, tuỳ theo hoàn cảnh và cương vị của mình, chính cách sống của chúng ta sẽ “nói” nhiều và có tác dụng nhất. Nói ít và làm nhiều luôn tốt hơn nói nhiều mà làm ít. Chúa cũng rất muốn ngôn hành song song: “Hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em, nhưng bên trong họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu”(Mt 7,15-17; Lc 6,43-45).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời bằng nét-cọ-số-phận của chính mình hoàn toàn vì Chúa, thực sự mong làm sáng Danh Chúa, và sinh hoa kết trái tốt. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu
Tác giả bài viết: Trầm Thiên Thu

CHÚA CÓ MUỐN CON NGƯỜI ĐAU KHỔ VÀ BỆNH TẬT ?

CHÚA NHẬT V TNB:

Thưa quý OBACE, ngày nay khoa học kỹ thuật đã tiến bộ vượt bậc và góp phần cải thiện cuộc sống con người, tuy nhiên con người vẫn không cam thấy an tân khi ngày càng thấy sự bất lực của mình trước vấn đề đau khổ và bệnh tật. Cùng với sự phát triển của y khoa thì người ta lại thấy càng ngày càng có nhiều căn bệnh lạ lùng và nhiều bệnh hiểm nghèo hơn. Cách đây vài chục năm chẳng mấy khi nghe nói đến bệnh béo phì, tiểu đường, sida, ung thư, các thứ bướu, di căn… còn ngày nay cơ quan, bộ phận nào trong con người cũng có thể bị ung thư và nếu ai bị kết luận là ung thư thì đồng nghĩa là nhìn thấy cái chết trước mặt. Người ta cũng biết rằng nguyên nhân của các căn bệnh hiểm nghèo là do ô nhiễm môi trường sống, do lạm dụng hóa chất và các thứ thuốc bảo vệ thực vật, do chế độ ăn uống dư thừa hoặc không điều độ gây ra.
Như vậy, có phải Thiên Chúa định cho con người gặp phải những đau khổ bệnh tật hiểm nghèo không? Thưa nếu nhìn vào các nguyên nhân như đã nêu ở trên, thì không phải Thiên Chúa tạo ra những bệnh tật như thế để khoác lên cho con người, mà bênh tật đau khổ là do chính con người gây ra cho nhau, là hậu quả của sự chọn lựa và hành động sai lầm của con người, và đồng thời cũng là hậu quả của sự ích kỷ và tham lam của con người; nói theo ngôn ngữ của Thánh kinh: đau khổ bênh tật là do bởi tội lỗi và ma quỷ gây ra cho con người.
Bài đọc một thuật lại những lời than vãn của ông Gióp về thân phận con người, chúng ta còn nhớ câu chuyện ông Gióp bị rơi vào thử thách đến cùng cực; từng là một người giàu có nhất trong vùng, thế mà chỉ sau một thời gian ngắn ông đã trở về tay không, từ một người phong lưu yến tiệc hằng ngày với vạn bè, ông trở thành người bị mọi người hất hủi, và ông còn mang trong mình căn bệnh lở loét ghê sợ, khiến không ai muốn đến gần ông. Trong hoàn cảnh như thế, ông Gióp có dịp gẫm suy về thân phận con người và về màu nhiệm của đau khổ. Ông nhìn thấy cuộc sống con người dường như quá vắn vỏi, mong manh, của cải vật chất thật chẳng khác gì của phù du nay còn mai mất, thân phận con người dường như quá vất vả đầu tắt mặt tối như kè làm thuê; con người khát khao tìm kiếm hạnh phúc nhưng dừơng như chỉ gặp toàn bất hạnh, ngày sống của con người thật đơn điệu nhàm chán chỉ còn biết mở mắt dậy là bắt đầu công việc cho tời khi chiều tà ngả lưng nằm ngủ không còn biết đến hy vọng ngày mai. Nhìn cuộc đời như thế, nhưng ông Gióp không hề bi quan thất vọng và nhất là dù trong đau khổ tột cùng ông vẫn hoàn toàn tin tưởng vào Chúa và cầu xin Chúa nhớ đến ông.
Sự bất lực của con người trước đau khổ và bệnh tật dường như không thể thay đổi, và cho đến ngày hôm nay vấn đề đau khổ và bệnh tật vẫn cứ là một câu hỏi lớn dằn vặt con người: Tại sao con người lại phải gánh chịu đau khổ và bệnh tật? Tại sao Thiên Chúa tốt lành Ngài không tiêu diệt hết đau khổ bênh tật để đem lại sự giải thoát và hạnh phúc cho con người?
Tin Mừng hôm nay không trả lời trực tiếp câu hỏi trên nhưng lại cho chúng ta nhìn ở một góc độ khác để khẳng định cho chúng ta rằng: Thiên Chúa không dựng nên đau khổ bệnh tật, mà đau khổ bệnh tật chính là hậu quả của tội lỗi và hành động của con người gây ra cho nhau, Thiên Chúa đã không hề dửng dưng trước đau khổ của con người, mà Ngài đã đến để yêu thương chia sẻ, xoa dịu những đau khổ của con người và chữa lành bệnh tật của con người và đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc và hy vọng. Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Thánh Marcô muốn cho chúng ta thấy nước Trời đã đến nơi con người của Đức Giêsu, Ngài mở ra một thời đại mới, thời của ơn tha thứ chữa lành và giải thoát, Đức Giêsu đã miệt mài với sứ vụ của người từ sáng sớm tới chiều tà để xua trừ bênh tật và xoa dịu đau khổ của con người.
Chúa Giêsu bắt đầu công việc giảng dạy của Ngài sau khi ra khỏi hội đường, là nơi Ngài thường vào để cầu nguyện, đọc sách luật và sách các ngôn sứ, Chúa Giêsu đã vào nhà mẹ vợ của ông Simon Phêrô, bà này đang bị sốt nặng, Chúa Giêsu cầm tay đỡ bà dậy và bà đã khỏi bệnh. Như đã chia sẻ chúa nhật tuần trước, đối với người Do Thái các thứ bệnh tật đều liên quan đến tội và các thần dữ, nếu như chúa nhật tuần trước thần ô uế nhìn thấy Chúa Giêsu thì đã khiếp sợ và khi Ngài ra lệnh thì nó phải nghe theo, thì hôm nay Chúa Giêsu chỉ cần cầm tay người bệnh nâng dậy, thì người bệnh đã được chữa lành cả thể xác và trong tâm hồn.
Chiều hôm đó, người ta đem đến cho Chúa Giêsu nhiều người với nhiều thứ bệnh khác nhau và cả những người bị quỷ ám, tất cả đều được Chúa chữa lành, không những thế, Ngài còn khóa miệng không cho ma quỷ và thần dữ nói điều gì nữa. Qua chi tiết này, tác giả Marco cho thấy Chúa Giêsu chính là hiện thân của lòng thương xót của thiên Chúa, Ngài đến để chia sẻ và chữa lành những đau đớn bệnh tật thể xác của con người, giải thoát con người khỏi sự ràng buộc của ma quỷ và tội lỗi, Ngài chữa lành tận căn nguyên gây ra đau khổ cho con người. Không chỉ như thế, Chúa Giêsu còn chia sẻ đến tận cùng đau khổ của con người, khi chấp nhận cuộc hành hình và đau khổ thập giá, chấp nhận cả cái chết để mãi mãi tiêu diệt sự chết, để bẻ gãy quyền lực của Satan và để đem con người vào nơi hạnh phúc, đó chính là sứ mạng của Chúa Giêsu.
Một chi tiết hết sức quan trọng mà thánh Marco muốn ghi nhận cho chúng ta đó là ngày sống và làm việc của Chúa Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc cầu nguyện và kết thúc bằng việc cầu nguyện. Khi trời còn mờ tối Chúa Giêsu đã thức dậy, tìm đến nơi thanh vắng để cầu nguyện, để trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa Cha, ngài nhận được sức mạnh cũng như nhận ra thánh ý của Thiên Chúa cho ngày sống của mình, và chiều về, Chúa Giêsu cũng tìm gặp thiên Chúa Cha với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa trong cầu nguyện.
Thưa quý OBACE, Sứ mạng của Chúa Giêsu là đem Tin Mừng yêu thương cứu độ cho thế gian như Ngài đã công bố: Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương dập nát, và Ngài đã miệt mài với sứ mạng ấy; Tin Mừng của Thiên Chúa không hề bị giới hạn bởi không gian thời gian, cũng không là sở hữu riêng của một nhóm người mà được ban tặng miễn phí cho hết mọi người. Là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi tiếp tục đem tin mừng yêu thương đến cho mọi người. Sứ mạng đem tình yêu thương và Tin Mừng của chúa cho anh em không chỉ là lời mời gọi mà nói như thánh Phaolô trong bài đọc hai, thì đó là một bổn phận và là trách nhiệm của mỗi Kitô hữu chúng ta và vì: khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng…
Đem Tin mừng yêu thương cho mọi người, có nghĩa là mỗi chúng ta sẽ phải tiếp tục sứ mạng yêu thương và là cánh tay nối dài của Chúa Giêsu, là hiện thân của tình yêu Chúa cho anh em. Bên cạnh chúng ta còn bao người đang phải chiến đấu với bệnh tật, đau khổ, và còn nhiều người đang bị những căn bệnh, đau khổ dằn vặt trong tâm hồn, chúng ta sẽ phải là người đưa tay ra, là người chia sẻ và xoa dịu những vết thương ấy cho anh em. Những người đau khổ có khi là chính những người thân trong gia đình mình đang phải chiến đấu với đau khổ bệnh tật kéo dài, chúng ta hãy là những người an ủi nâng đỡ và thông cảm chia sẻ với họ.
Hãy làm giảm bớt đi những đau khổ của người vợ người chồng bằng việc chung tay góp sức cùng giải quyết những khó khăn thử thách, hãy an ủi và chăm sóc cho người cha người mẹ gìa đau yếu để các ngài khỏi tủi thân và có thể an vui với tuổi già; những ng
ười làm con, hãy chia sẻ sự nhọc nhằn của cha mẹ bằng việc cùng chung tay vun đắp cho gia đình, và bằng việc chăm chỉ học hành và nghe theo lời giáo huấn của các Ngài.
Để làm được việc đó, để có thể đem tình yêu của Chúa đến cho người chung quanh, hãy noi gương Chúa Giêsu, sống gắn bó với Thiên Chúa và đón nhận sức mạnh từ nơi Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, chính Thiên Chúa đang muốn dùng chúng ta trở thành những người đem tình yêu của Chúa đến cho anh em. Amen

Tác giả bài viết: Lm. Đỗ Đức Trí

NGÔN NGỮ CỦA TÌNH YÊU


Có lẽ cái tên của Helen Keller, một cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở thành bậc khoa bảng, không còn xa lạ với chúng ta nữa. Vừa được 19 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh này trở thành mù lòa và câm điếc. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô.  Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù lòa? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này còn đó là còn có thể truyền thông và liên lạc với cô gái mù lòa và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, nhưng Helen Keller đã có thể học xong Ðại Học, tốt nghiệp Tiến sĩ và trở thành văn sĩ.  Cho người mù lòa và câm điếc chạm vào một sự vật và viết lên tên gọi của sự vật ấy: đó là phương pháp của cô giáo Anna Sullivan. Dạy về những sự vật cụ thể như cái bàn, cuốn sách, cành cây, con chó� xem ra không hẳn là điều khó. Nhưng làm thế nào để diễn tả cho Helen hiểu được những ý niệm trừu tượng như tình yêu chẳng hạn?  Ngày kia, cô giáo Anna Sullivan đã viết lên tay của Helen Keller hai chữ "Tình Yêu" rồi ôm trầm lấy cô bé hôn lấy hôn để với tất cả sự thành thật và nhiệt tình của cô. Lần đầu tiên trong đời, cô gái câm điếc mù lòa bỗng cảm thấy tim mình đập mạnh và cô hiểu được thế nào là Yêu Thương. 
Ngôn ngữ của Tình Yêu là những hành động cụ thể. 
Ánh mắt trìu mến, những âu yếm vuốt ve của người mẹ đối với đứa con mới lọt lòng có giá trị hơn bất cứ một quyển sách biên khảo nào về tình yêu. Nhưng mồ hôi và nước mắt, những hy sinh hằng ngày của người cha giúp con cái hiểu được thế nào là Yêu thương hơn bất cứ lời dẫn giải nào về Tình Yêu. Và có lẽ cũng thừa thãi để bảo rằng khi hai người yêu nhau thì sự thinh lặng và những cử chỉ âu yếm có sức mạnh hùng hồn hơn những lời nói hoa mỹ, những trống rỗng. 
Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài tỏ tình, Ngài bộc lộ tình yêu với con người không chỉ bằng những lời nói suông, mà bằng cả lịch sử của những can thiệp, những thể hiện cụ thể. 
Một tình yêu không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể là một tình yêu giả dối, lừa bịp. 
Ðạo Kitô của chúng ta là Ðạo của Tình Yêu. Một người kitô không sống Tình Yêu, không viết lên hai chữ Tình Yêu bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân, người đó chỉ là một người Kitô giả hiệu, một Ðức Tin không việc làm là một Ðức Tin chết. Một lòng Mến không được thể hiện bằng hoa trái của lòng Mến chỉ là lòng Mến giả tạo.

Tác giả Veritas
     
     
     

NGƯỜI MẸ BỒNG CON


Một buổi trưa hè nóng bức. Những người hành khách trên chuyến xe đò lặng lẽ nhìn con đường độc điệu. Cái nắng chói chang và cuộc sống buồn tẻ như giam hãm mọi người trong một thứ thinh lặng nặng nề. 
Nhưng ở một trạm dừng nào đó, mọi người bỗng ra khỏi sự thinh lặng của mình để đưa mắt nhìn về một người thiếu phụ trẻ vừa mới bước lên xe. Chuyến xe từ từ chuyển bánh trở lại. Người thiếu phụ bắt đầu cười và đùa giỡn với đứa con thơ dại chị đang bế trên tay. Cử chỉ của người thiếu phụ, tiếng cười hồn nhiên của đứa bé đã thu hút sự chú ý của mọi hành khách. Trong phút chốc một ngọn gió mát của hiếu kỳ của liên đới, của tham dự và của chính sức sống đã đem lại một bầu khí tươi mát cho mọi người. Mọi người như bừng tỉnh từ nỗi thinh lặng của oi bức, của ngái ngủ. Nơi đây, người ta nghe có tiếng người bắt đầu nói chuyện. Nơi kia có tiếng người cười. Sự đối thoại như một dòng điện chạy xuyên qua mọi người. Giờ thì chuyến đi không còn là một cuộc độc hành buồn tẻ nữa. 
Trên chiếc xe già cỗi và buông tẻ của thế giới, một người đàn bà đã bước lên: Tình Yêu và Sự Sống đã bừng dậy. Người đàn bà đó chính là mẹ Maria. Thế giới bắt đầu đi vào một gia đoạn lịch sử mới kể từ giây phút ấy. Mẹ đã bước lên chiếc xe cằn cỗi của thế giới cùng với Chúa Giêsu để biến nó trở thành một cuộc hành trình vui tươi và đầy ý nghĩa. 
Thiên Chúa đã không ngừng tạo dựng Mẹ Maria như biểu tượng cao vời nhất của người đàn bà, của người vợ, của người mẹ, Ngài còn muốn cho chúng ta nhìn thấy nơi Mẹ con đường lý tưởng, mẫu gương lý tưởng mà môic người phải noi theo để đạt đến cứu cánh vĩnh cửu. 
Mẹ đã sinh ra như mọi người, Mẹ đã lớn lên như mọi người, Mẹ đã sống cuộc sống con người như mọi người, nghĩa là Mẹ cũng đã trải qua những tháng năm của buồn vui, của thử thách, của mất mát, cuộc hành trình đó là bởi vì lúc nào Mẹ cũng sống kết hiệp với Chúa và tin tưởng ở quyền năng Yêu thương của Ngài. Mang Chúa Giêsu đến cho trần thế, Mẹ đã biến cuộc hành trình buồn tẻ của thế giới thành một Ðại Lễ của gặp gỡ, của chia sẻ, của hân hoan và tin tưởng. Từ nay, tuyến đường mà nhân loại đang đi kết thúc bằng một điểm đến rõ rệt là chính Thiên Chúa.


Tác giả Veritas
 

1 tháng 2, 2012

CHÚA GIÊSU CHỮA NGƯỜI BỊ QUỶ ÁM

Chúa Nhật IV Thường Niên B Dnl 18,15-20; 1Cr 7,32-35; Mc 1,21-28


Một vị linh mục nổi tiếng và thánh thiện đã chia sẻ một câu chuyện có thật mà chính Ngài đã gặp và trực tiếp giải quyết sự việc: một anh thanh niên khoảng 30 tuổi, anh hãnh diện mình là cháu một đức cha, và tự hào bản thân có nhiều khả năng đặc biệt hơn người. Nhân dịp về Bến Tre, anh ra nghĩa trang thách thức ma quỷ nhập vào mình. Ngay từ đêm ấy anh trở thành một người lạ lùng, bị điên loạn, phá phách, gia đình phải đưa vào nhà thương tâm thần Biên Hoà chữa trị nhưng chữa mãi vẫn không hết. Gia đình đem anh về nhà, ban ngày anh uống thuốc an thần liều cao nên ngủ li bì, nhưng ban đêm dù uống thuốc thế nào anh vẫn tỉnh như sáo, phá phách mọi người …
Một hôm gia đình đưa anh lên gặp cha – vị linh mục đang chia sẻ câu chuyện trên. Ngài đề nghị anh xưng tội rồi đặt tay cầu nguyện cho anh. Khi cha đặt tay trên đầu anh để cầu nguyện, anh la hét lớn đến nỗi nhiều người ở dưới đường không biết có chuyện gì khủng khiếp xảy ra. Ngay sau đó tâm trí anh được ổn định… Điều này nhắc nhở ta đừng bao giờ thách thức quỷ ma. Đây chỉ là một sự việc trong các sự việc về quỷ ám và chữa lành những người bị quỷ ám của vị linh mục khả kính…
Ma quỷ luôn có mặt trong thế giới con người, cuộc chiến với ma quỷ, con người trong thân phận mỏng giòn không phải là địch thủ ngang tài đồng sức, nên thường thua cuộc nếu không có trợ giúp. Ngay trong trận chiến đầu tiên giữa con người và ma quỷ, nguyên tổ Adam và Eva đã thua mưu chước ma quỷ khi trái lệnh Thiên Chúa. Con người khó tự mình thoát được nanh vuốt ma quỷ luôn tìm cách làm hại con người không những bằng xúi giục con người làm điều tội lỗi mà còn hành hạ, khống chế, trói buộc, bắt con người làm nô lệ cho chúng. Chúng rất tinh khôn nên thường xuất hiện dưới những hình dáng bên ngoài xinh đẹp, hấp dẫn như vẻ đẹp và sự trí tuệ của cây biết lành biết dữ trong vườn địa đàng mà nguyên tổ đã mắc mưu. Chúng xuất hiện dưới nhiều vẻ đẹp hào nhoáng của thế gian,  những đồng tiền bất chính và hứa hẹn cho ta một cuộc sống thoải mái… như chúng cám dỗ Chúa Giêsu "… đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy" (Mt 4, 8).
Chúa Giêsu đến thế gian đấu tranh vì con người, cuộc đấu tranh này dẫn đưa Ngài đến thập giá và giải thoát nhân loại khỏi những xiềng xích theo cách giải thích luật Chúa nhỏ nhen của loài người đã ràng buộc họ như cách giải thích của các Biệt phái và Kinh Sư. Đặc biệt Trên Thập Giá, Chúa Giêsu đến giải phóng con người khỏi sự dữ và Satan.
“Đi vào trong hội đường, Chúa Giêsu giảng dạy”, sự hiện diện của Ngài trong hội đường đã khiến cho Satan - thần ô uế đang mai phục trong một anh em phải chường mặt ra và khiếp sợ thét lên: “Ông Giêsu Nagiarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1, 23 – 24).
Thật thế, Đức Giêsu là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24) như chính miệng của Quỷ ma tuyên xưng, “vì là Đấng Kitô, nghĩa là Đấng-Được-Xức-Dầu, được thánh hiến, và là Con Thiên Chúa” (Kinh Thánh Tân Ước 1995:185). Người đã xuất hiện như một ngôn sứ “có uy quyền” (Mc 1, 27) và chính uy quyền đó biểu lộ nơi sức mạnh trấn áp “thần ô uế” (Mc 1, 23).
Đức Giêsu quát mắng Thần ô uế: " Câm đi, hãy xuất khỏi người này". Từ nguyên ngữ trong Thánh Kinh bản văn Hi Lạp được dùng ở đây, có nghĩa gì "bịt miệng", “đe dọa”, “quát mắng". Sau này trước giông bão nổi lên trên biển hồ, Đức Giêsu cũng sử dụng từ này (Mc 4,39) ra lệnh cho sóng biển vốn là biểu tượng của sức mạnh Satan, phải im lặng cho biển trở nên hiền hòa. Trong mầu nhiệm sự chết và sống lại của Đức Kitô, quyền năng của Đấng Phục sinh chiến thắng mọi quyền lực ma quỷ được diễn tả qua câu: sự ác bị đánh bại Thiên Chúa xuất hiện…
Trước lời giảng dạy, và lời truyền cho Satan phải rút lui, “Người ta kinh ngạc về giáo lý của người" (Mc1, 22). Ngài giảng dạy không như các kỳ lục, nhưng Ngài giảng dạy với uy quyền đến từ Thiên Chúa. Theo nguyên ngữ Kinh Thánh, tiếng Hy Lạp “uy quyền” có nghĩa rất mạnh. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, Thiên Chúa sẽ ban cho Đấng Messiah của Ngài một “Quyền lực” tối thượng (Đnl 7,13-14). Chúa Giêsu là Đấng Kitô, tức là Đấng Messiah, được xức dầu tấn phong (x. Lc 4, 18)
Chúa Giêsu cũng khẳng định quyền năng tuyệt đối đến từ Thiên Chúa, xua đuổi quỷ để xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa: “ Ta trừ quỷ chính nhờ quyền năng Thiên Chúa, và điều ấy chứng tỏ rằng Nước Thiên Chúa đã đến với các ngươi rồi” (Lc 11,20).
Ma quỷ và hoạt động của chúng vẫn luôn hiện hữu trong xã hội ngày nay, hai tác giả Hal Lindsey và C.C. Carlson đã ghi nhận và trình bày trong một tác phẩm được Linh Giao phóng tác ra Việt ngữ dưới tựa đề ‘Satan vẫn còn sống và đang tung hoành trên mặt đất’ (NXB Thế giới, 1992) trình bày những sự kiện Satan vẫn còn làm việc trong thế giới ngày nay...  Đức Giáo Hoàng Phaolô VI năm 1972 khẳng định rằng: ma quỷ, những tạo vật vô hình, mưu mô, có thật và vẫn còn hoạt động rất mạnh. Nó hành động cách trực tiếp hoặc qua những sự cám dỗ con người.
Riêng trong xã hội Việt Nam hôm nay chúng ta vẫn còn nghe nói và có khi thấy: bùa ngải, thư yểm, nhất là nơi những người buôn bán, như ta từng nghe nói: ‘ngậm ngải tìm trầm’ hay ‘bùa yêu’ của một vài người thỉnh về, đó là những thế lực của sự dữ của bóng tối mà Satan làm chủ trói buộc con người. Hay cầu chuyện về quỷ ám ma nhập mà vị linh mục khả kính vừa chia sẻ. Mưu mô ranh ma của chúng mà Kinh Thánh Tân Ước có nhấn mạnh: Ma quỷ là kẻ dối trá và hay đánh lừa con người (Ga 8,44).
Thế giới hôm nay vẫn bị ám ảnh bởi nhiều thứ khác: tham vọng và dục vọng, sợ hãi và oán thù, ích kỷ và hưởng thụ... Thật thế ma quỷ mai phục nơi mỗi người chúng ta: quỷ keo kiệt muốn ta chỉ lo giữ mà không muốn chia sẻ cho người khác.  Quỷ kiêu hãnh chúng ta phải luôn cảnh giác kẻo nó đưa chúng ta lên khi nghĩ rằng chúng ta thật là một nhân vật quan trọng do công nghiệp của riêng mình. Quỷ mê ăn uống, xô đẩy chúng ta ra khỏi tinh thần tiết độ. Quỷ khoái lạc là một con quỷ có mặt nạ dễ thương, có nhiều bạn trợ giúp như Tivi, phim ảnh, sách báo đồi trụy và bạn bè xấu... Chúng ta xin Chúa đến giúp chúng ta khỏi những ách nô lệ của quyền lực bóng tối này như xưa Ngài đã trục xuất chúng ra khỏi người bị qủy ám trong Hội Đường lúc Ngài giảng dạy. Chúng ta cùng hiệp cùng với lời cầu xin của Đức Giêsu Kitô dâng lên Chúa Cha cho chúng ta:
“Xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15),
Chúng ta tha thiết cầu xin với lời nguyện của kinh Lạy Cha hằng ngày chúng ta vang lời cầu: “Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Giáo Lý Công Giáo giải thích rõ ràng: sự dữ ở đây chỉ một nhân vật, đó là Satan, là vị thiên thần đã chống lại Thiên Chúa, là ma quỷ (số 2851).
Thiên Chúa muốn chúng ta được giải thoát khỏi quyền lực chi phối của ma quỷ và Ngài còn muốn chúng ta cùng giải thoát cho anh chị em mình nhờ quyền năng của Đức Giêsu Kitô ban cho trong sức mạnh và tình yêu của Chúa Thánh Thần, theo sự chỉ dẫn của Chúa Giêsu: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỷ” (Mc 16,17; x. Lc 9,1; 9,49; 10,17-20). Bản thân của chúng ta tin mạnh, nhưng đức tin được tuyên tín nơi con người hết sức khiêm tốn phục vụ mọi người và tăng cường sự kết hợp mật thiết với Đức Giêsu Kitô bằng đời sống cầu nguyện (x. Mc 9,29), và bằng cuộc sống chay tịnh (x. Mt 17,14-24).
Thật thế, trước sức mạnh của sự dữ, chúng ta tin vào Chúa Kitô với tâm tình khiêm cung, cầu nguyện và chay tịnh, sẽ được đảm bảo như Thánh vịnh vang lời :
“Ngài ra tay chận đứng,
 lấy tay uy quyền giải thoát con”
                  (Tv 136, 7).

                     , Sài Gòn 28/01/2012
 Tác giả bài viết: Lm. Vinh Sơn

RỪNG MẮM


Trong một chuyện ngắn mang tựa đề "Rừng Mắm", cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc đã giải thích về ích lời của cây mắm qua mẩu đối thoại sau đây giữa hai ông cháu:

- Cây mắm sao con không nghe nói đến bao giờ?
- Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm lửa cũng không được nữa là.
- Vậy trời sinh nó làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sinh ra hằng hà sa số như là cỏ vậy?
Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước, phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một mai kia, cây mắm sẽ ngã rạp, giống tràm sẽ nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được. Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, Ông cụ vịn vai nó nói tiếp: "Ông với tía, má con là cây mắm, chân giam trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lắm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau. Ðời cây mắm tuy vô ích nhưng không uổng đâu con". 
Mỗi lần nhìn lại thời gian đã qua, chúng ta thường tự hỏi: "Tôi đã làm gì được cho tôi, cho quê hương, cho Giáo Hội?". Y� nghĩ về sự vô tích sự của mình có thể tạo nên trong tâm hồn chúng ta mỗi chua xót, đắng cay, thất vọng. 
Chúng ta hãy nhìn lại của đất phù sa và cây mắm trong câu chuyện trên đây. Cần phải có cây mắm, đất phù sa mới trở thành đất thịt, để rồi từ đó cây tràm và các laọi câu khác mới có thể mọc lên. 
Mỗi một người sinh ra trên cõi đời này, dù tàn tật, dù dốt nát và xấu xa đến đâu, cũng có thể là một thứ cây mắm, cây tràm để cho đất đai trở thành màu mỡ, nhờ đó những cây ăn trái mới có thể vươn lên. 
Ước gì ý nghĩa ấy giúp chúng ta có một cái nhìn lạc quan hơn về quá khứ, về chính bản thân của chúng ta. Trong Tình Yêu Quan Phòng của Chúa, mỗi người đều có một chỗ đứng trong lịch sử nhân loại và đều có một giá trị bổ túc cho những thiếu sót của người khác. 
Với ý nghĩ ấy, còn tâm tình nào xứng hợp hơn trong giây phút này cho bằng tri ân, cảm mến đối với Thiên Chúa Tình Yêu? Cảm tạ Ngài đã tạo dựng nên chúng ta, cảm tạ ngài đã ban chúng ta được phục vụ Ngài, cảm tạ Ngài đã cho chúng ta được hữu dụng trong Tình Yêu Quan Phòng của ngài.
 

Tác giả Veritas