Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

6 tháng 2, 2012

Mẹo nhỏ kéo dài tuổi thọ pin máy ảnh

Giảm cường độ màn hình LCD, sử dụng tính năng tiết kiệm năng lượng trong máy và sử dụng pin đúng cách sẽ giúp kéo dài tuổi thọ của pin máy ảnh.

 Những mẫu máy ảnh kỹ thuật số hiện nay sử dụng màn hình kích thước lớn, nhiều chế độ cùng những chức năng như xem lại ảnh và video ngay trên máy. Do đó, máy rất nhanh hết pin hoặc pin cũng kém tuổi thọ dần sau lâu ngày sử dụng.

Để giúp bạn tiết kiệm pin và kéo dài tuổi thọ của pin dưới đây là 3 mẹo sử dụng với máy ảnh để giữ năng lượng và tổi thọ tốt nhất cho pin.

Cách 1: Mẹo sử dụng màn hình LCD

  Giảm cường độ sáng của màn hình giúp tiết kiệm năng lượng pin
Trong máy ảnh kỹ thuật số màn hình hiển thị LCD tiêu thụ nhiều năng lượng nhất. Bằng cách điều chỉnh độ sáng của màn hình trong phần cài đặt của máy, bạn có thể giảm đáng kể mức năng lượng pin cần sử dụng. Khi pin yếu, giảm cường độ sáng của màn hình tới mức có thể xem được là cách tốt nhất để duy trì năng lượng pin lúc cần thiết.

Tuy nhiên, việc giảm độ sáng có thể ảnh hưởng đến khả năng xem màn hình dưới ánh sáng mặt trời. Chỉ cần che bàn tay, tạo bóng râm cho màn hình bạn có thể nhìn thấy hình ảnh rõ ràng hơn.

Cách 2: Sử dụng tiết kiệm năng lượng trong máy

Nên sử dụng tính năng tiết kiệm năng lượng trong máy
Hầu hết máy ảnh đều có chức năng tạm ngừng hoạt động khi không sử dụng mà vẫn mở nguồn để tiết kiệm pin. Chỉ cần thao tác cài đặt trong Menu của máy và tùy chọn thời gian thích hợp để máy tự nghỉ.

Ngoài ra, tính năng này cho phép máy luôn sẵn sàng hoạt động khi bạn cần chụp ảnh bất cứ lúc nào. Ở một số dòng máy của Sony, để chế độ nghỉ còn tiết kiệm năng lượng hơn so với việc tắt và mở máy liên tục. Do vậy, nên sử dụng tính năng này để đảm bảo cho pin sử dụng hiệu quả nhất khi cần thiết.

Cách 3: Mẹo sử dụng Pin

Nên thao pin khi không sử dụng trong thời gian dài
Sử dụng pin hợp lý cũng là cách tốt nhất để duy trì hiệu suất tốt nhất của máy ảnh. Pin sử dụng kém hơn sau một thời gian hoạt động có thể do những thói quen của người sử dụng. Do đó, nên tránh những trường hợp sau để pin có tuổi thọ lâu hơn.

Không nên sạc pin khi pin còn tương đối đầy. Nếu sạc như vậy nhiều lần pin sẽ bị lỗi và nguồn không ổn định. Nếu dùng pin AA chỉ sử dụng khi các pin có năng lượng tương đương nhau.

Khi ngừng sử dụng máy trong một thời gian dài, nên tháo pin khỏi máy và tránh làm rơi pin, do pin dễ thay đổi phân cực.

Cách giữ pin có tuổi thọ lâu hơn như, sử dụng kính ngắm thay cho màn hình hiển thị, không xem lại ảnh và video khi pin cón năng lượng thấp.

Ngoài ra, pin mất năng lượng nhanh hơn trong muôn trường nhiệt độ thấp, do vậy khi sử dụng trong thời tiết lạnh, có thể để máy ảnh vào túi áo khoác, nhiệt độ cơ thể lúc này là tốt nhất để giữ năng lượng cho pin.

                                                                                                                          
                                                                                                                                                          theo dientutieudung.vn


Người lại gần, cầm lấy tay mà đỡ dậy”

Hiệu quả trực tiếp của sự tiếp xúc với Đức Giêsu và của kinh nghiệm về sức mạnh của Người, chính là hành động được cụ thể hóa trong việc phục vụ những người xung quanh.
“
Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,29-39) gồm ba phần: Đức Giêsu chữa cho bà mẹ vợ ông Simon khỏi sốt (cc.29-31), Người chữa bệnh và trừ quỷ cho đám đông dân chúng “xúm lại ở cửa” (cc.32-34) và Người âm thầm rời Caphacnaum đi rao giảng Tin Mừng khắp miền Galilê (cc.35-39).
1. Trong nhà ông Simon (cc.29-31)
“Vừa ra khỏi hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu đi đến nhà hai ông Simon và Anrê. Có ông Giacôbê và ông Gioan cùng đi theo” (c.29). Đức Giêsu ra khỏi hội đường sau khi đã chữa lành một người bị quỷ ô uế ám và đang khi dân chúng còn kinh ngạc và chưa hiểu ý nghĩa của phép lạ trừ quỷ ấy. Sau đó, Đức Giêsu đi đến nhà hai ông Simon và Anrê. Hình như tác giả Mc cố ý đặt đối lập hội đường với nhà ông Simon, được coi như hình ảnh của Hội Thánh. Sự kiện ra khỏi hội đường, vì thế, có thể hiểu là một sự kiện mang tính biểu tượng, có ý nói rằng cần phải ra khỏi hội đường thì người ta mới có thể trở thành đồ đệ của Đức Giêsu được.
“Lúc đó, bà mẹ vợ ông Simon đang lên cơn sốt, nằm trên giường” (c.30a). Người xưa thường hiểu những cơn sốt, vốn đôi khi đưa đến tử vong, là một trong các hình phạt mà YHWH giáng trên kẻ bất trung. Người ta ưa gán cơn sốt cho một nguồn gốc thuộc thế giới ma quỷ. Bà mẹ vợ ông Simon đang bị sốt, đó là hình ảnh của một người đang phải sống dưới sự tác động và khuấy khuất của sự ác; điều đó khiến bà phải nằm bất động trên giường, hình ảnh của một tình trạng không có sức lực để hoạt động, hình ảnh của một người như đã chết rồi.
“Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà. Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay” (cc.30b.31a). Đức Giêsu lập tức hành động vừa khi nhận được thông tin về tình trạng của bà mẹ vợ ông Simon. Người đàn bà bị sốt nằm trên giường, không thể đến gần Đức Giêsu để xin Người chữa lành. Đối diện với tình cảnh đó của bà, Đức Giêsu đã chủ động lại gần bà. Hành động này cho thấy tình yêu, sự quan tâm ân cần và niềm ao ước của Người muốn chấm dứt tình cảnh bi đát của bà. Người muốn giải thoát bà khỏi những sức ép đang khiến bà thiếu sức sống và không thể hoạt động được.
Khác với hành động tại hội đường lúc trước, ở đây, Đức Giêsu không nói một lời nào. Người chỉ cầm lấy tay bà mà đỡ dậy. “Đỡ dậy”, trong bản văn Hy Lạp của Mc là động từ egeirō ở dạng ngoại động, có nghĩa là “làm cho trỗi dậy”, đã trở thành một thuật ngữ để diễn tả sự sống lại. Đức Giêsu ban sức sống của Người cho người đàn bà đang phải nằm bẹp trên giường vì sốt cao và giúp bà trỗi dậy; cơn sốt biến mất ngay lập tức.
“Và bà phục vụ các ngài” (c.31b). Đây là dấu hiệu cho thấy cơn sốt đã thực sự biến mất. Hiệu quả trực tiếp của sự tiếp xúc với Đức Giêsu và của kinh nghiệm về sức mạnh của Người, chính là hành động được cụ thể hóa trong việc phục vụ những người đang hiện diện. Phục vụ các thành viên của cộng đoàn là hành động đặc trưng của những đồ đệ Đức Giêsu và là dấu chỉ của sự hiện diện của Nước Trời giữa nhân loại.
Với phép lạ chữa bà mẹ vợ ông Simon khỏi sốt này, vốn là phép lạ chữa lành bệnh đầu tiên trong Tin Mừng Mc, Đức Giêsu cho thấy Người chính là sứ giả của Thiên Chúa mà ngôn sứ Isaia đã loan báo. Thời cánh chung đã đến. Thời thiên sai đã điểm: Đức Giêsu hành động với quyền năng và sức mạnh của chính Thiên Chúa.
2. Trước cửa nhà ông Simon (cc.32-34)
“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người” (c.32). Động từ “đem” (pherō) được chia ở thời vị hoàn, chỉ sắc thái kéo dài và liên tục của hành động, có nghĩa là “người ta vẫn cứ đem đến...”. Dân chúng biết Đức Giêsu đang ở nhà ông Simon, nhưng họ đã chờ cho đến khi ngày sabat qua đi để không vi phạm luật giữ ngày sabat, rồi mới đưa những kẻ ốm đau và những kẻ bị quỷ ám đến cho Người. Đức Giêsu đã chữa lành cho bà mẹ vợ ông Simon dù chưa hết ngày sabat, nhưng đối với dân chúng, ngày sabat, vốn là thời gian thánh và là ngày của phúc lành (St 2,3), trong thực tế đã trở thành như ngày của sự chúc dữ, ngăn cản họ đạt được ơn giải thoát và sự chữa lành!
“Cả thành xúm lại trước cửa” (c.33). Đây là trước cửa nhà ông Simon, nơi Đức Giêsu đang hiện diện. Đám đông dân chúng này đã chứng kiến sự kiện Đức Giêsu trục xuất quỷ khỏi một người bị quỷ ám tại hội đường Caphácnaum; nhưng ở đó, họ chỉ kinh ngạc và bàn tán với nhau, chứ chưa tin vào Đức Giêsu, dù đã nhận thấy uy quyền của Người (1,27). Sau đó, họ cẩn thận giữ ngày sabat (c.32), tức là họ vẫn tiếp tục ở dưới sự kềm tỏa của Luật. Rõ ràng họ chưa thay đổi nhận thức về các nguyên tắc và giá trị. Họ chưa sẵn sàng sống những thực tại mới mẻ do Đức Giêsu đem lại, mà chỉ tìm đến với Người như đến với một vị thầy mới. Họ chưa biết căn tính đích thực của Người. Họ chưa thể bước vào nhà, mà mới chỉ có thể “xúm lại trước cửa”.
“Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ” (c.34a). Không có bất cứ điều kiện nào được đưa ra cho việc chữa lành và trừ quỷ. Tác giả Mc cũng không mô tả cách thức Đức Giêsu thực hiện những công việc đó, mà chỉ tập trung chú ý trên hành động và kết quả của hành động. Điều quan trọng là quyền năng, lòng nhân lành và sự quan tâm của Đức Giêsu đối với tình trạng bi đát của nhân loại được thể hiện nơi đám đông đau khổ này. “Nhưng Người không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai” (c.34b). Quỷ muốn nói về Đức Giêsu, tức là, như trong hội đường Caphácnaum vài giờ trước (x.c.24), chúng muốn hô lên rằng Người là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng Mêsia mà dân chúng đang mong đợi. Nhưng Đức Giêsu không cho phép chúng làm như thế. Có thể nói đến hai lý do. Thứ nhất, Người không muốn có sự hiểu lầm, vì dân chúng chưa thể hiểu đúng căn tính của Người. Thứ hai: quỷ không đủ tư cách công bố về căn tính của Đức Giêsu, cho dù chúng biết Người là ai.
3. Đức Giêsu âm thầm rời Caphácnaum và đi khắp miền Galilê (cc.35-39)
Sau những gì Đức Giêsu đã thực hiện tại Caphácnaum, thật dễ hiểu những toan tính của dân chúng trong thành muốn giữ Người như là một thủ lãnh quyền thế ở giữa họ, bảo đảm cho họ không còn phải bệnh tật và đau đớn. Họ hiểu sai về sứ mạng của Đức Giêsu. Người không phải là một thầy lang tài năng, có thể chữa bá bệnh. Người là Đấng công bố Tin mừng về Nước Thiên Chúa đã đến gần (1,15). Vì thế, Người phải âm thầm nhưng cương quyết rời đi. Sự kiện này cho thấy rõ sự căng thẳng giữa điều mà Người phải thực hiện theo ý muốn của Chúa Cha với điều mà dân chúng mong mỏi nơi Người.
“Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (c.35). Nơi hoang vắng là nơi đối ngược với tình cảnh của phố thị, tức là nơi không người cư ngụ và là nơi xa cách xã hội con người. Nơi hoang vắng này nhắc người ta nhớ đến hoang địa, nơi Đức Giêsu đã được Thần Khí đẩy vào (1,12.13) và nhắc đến một thực tại: sự cắt đứt đối với những giá trị và thực tại trong xã hội Do Thái đương thời. Đức Giêsu đi vào “nơi hoang vắng” và cầu nguyện ở đó.
“Ông Simon và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy!" (cc.36-37). “Mọi người” ở đây là dân chúng thành Caphácnaum, những kẻ đã xúm lại trước cửa nhà vào buổi chiều hôm trước. Ông Simon và các bạn ông chia sẻ và ủng hộ cái ước muốn của dân chúng. Họ tự biến mình thành phát ngôn viên của đám đông và tự gán cho mình vai trò làm trung gian giữa những người hâm mộ và Đức Giêsu. Họ tự cho mình nhiệm vụ phải tìm cho được Đức Giêsu, trình bày với Người ý muốn của đám đông dân chúng và tìm cách giữ Người lại Caphácnaum. Động từ “zēteō” (tìm/xin), trong Mc, thực ra luôn có sắc thái tiêu cực, tiền giả định một ý định sai lầm hoặc không tốt, ví dụ trong 3,32; 8,11t; 16,6; trong các đoạn văn khác, động từ này luôn có chủ ngữ là các nhà lãnh đạo Do Thái hoặc Giuđa, những người tìm cách đẩy Đức Giêsu vào chỗ chết: 11,18; 12,12; 14,1.11.55.
Trong lời ông Simon và các bạn nói với Đức Giêsu khi gặp Người, ta không thấy có bất cứ yếu tố lễ phép nào. Không có lời thưa gửi, không có tước hiệu nào được thưa lên, họ chỉ nói với Người bằng một câu nói có giọng điệu khiển trách. Họ không nói nhân danh chính mình, mà là nói lên ý muốn của đám đông.
Trả lời cho câu nói ấy, “Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó" (c.38). Đối ngược lại với ý muốn của đám đông, Đức Giêsu quyết định tiếp tục cuộc hành trình của Người, và bằng cách đó, Người từ chối tất cả những gì người ta tính toán khi đi tìm Người. Người không ở lại Caphácnaum, cũng không rơi vào cạm bẫy của quyền lực và sự thành công nhất thời. Hơn nữa, Người còn mời gọi những người vừa đi tìm Người hãy đi cùng với Người (“Chúng ta hãy đi...”), tức là ngầm mời gọi họ từ bỏ những toan tính và chủ đích trước đây của họ. Sau cùng, Người khéo léo nhắc họ: điều căn bản trong sứ mạng của Người là loan báo Tin Mừng. “Rồi Người đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ” (c.39).
Để kết luận bài suy niệm, có thể nói: liên quan đến những hành động quyền năng của Người, Đức Giêsu thấy trước một nhiệm vụ kép. Với các hành động quyền năng đó, Người muốn khẳng định và cho thấy sứ điệp Tin Mừng của Người, nhưng đồng thời Người cũng muốn và phải cho thấy những sai lầm của những ai tưởng rằng đích nhắm của sứ mạng mà Người đang thực hiện thì nằm ở trong những công trình quyền năng đó. Điều đó giải thích sự kiện rằng một đàng, Người đón tiếp những bệnh nhân và những người cần được giúp đỡ với tất cả quyền năng của Người, nhưng đàng khác, Người cố tình giữ khoảng cách với những người đặt khía cạnh phép lạ lên tầng thứ nhất của công trình mà Người đang thực hiện.
Thái độ đúng đắn khi đã được hưởng nhờ những hành động quyền năng và những ơn huệ của Người, có lẽ là thái độ của bà mẹ ông Simon trong phần thứ nhất của bài Tin Mừng hôm nay: phục vụ (c.31b). Hiệu quả trực tiếp của sự tiếp xúc với Đức Giêsu và của kinh nghiệm về sức mạnh của Người, chính là hành động được cụ thể hóa trong việc phục vụ những người xung quanh.
Việc phục vụ các thành viên của cộng đoàn chính là hành động đặc trưng của những đồ đệ Đức Giêsu và là dấu chỉ của sự hiện diện của Nước Trời giữa nhân loại.
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

Để Thầy còn rao giảng

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN NĂM B Suy niệm Tin Mừng Mc 1, 29-39


            Mới đọc đoạn Tin Mừng này tôi có ấn tượng đức Giê-su coi việc chữa lành người bệnh tật ốm đau chỉ là một công tác phụ, trong khi sứ mệnh chính của Người là rao giảng. “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Về phía đám quần chúng bình dân thì rõ ràng, phần đa họ tìm đến với Ngài trước hết vì được chữa lành khỏi bệnh hoạn tật nguyền. “Mọi người đang tìm Thầy đấy!” Và cũng chính vì được chứng kiến các việc chữa lành mà dân chúng tin vào lời Ngài giảng dạy. ‘Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền’ (c.22).
            Tuy nhiên hình như chính đức Giê-su cũng ý thức rõ hơn ai hết: không lời giảng dạy nào về một Thiên Chúa nhân ái đối với con người nhân loại lại hữu hiệu và hùng hồn cho bằng nhân danh Thiên Chúa rộng tay chữa lành các thương đau phần xác cũng như phần hồn của con người cùng khốn. Ngay cả đối với các môn đệ mới chiêu mộ, Người cũng đã hoàn toàn chủ động chữa bà mẹ vợ ông Si-mon khỏi cơn sốt, cho dù không được ai yêu cầu. Phải chăng đó chính là để ‘các môn đệ tin vào Người’, theo cách nói của Gio-an sau khép lạ nước hóa rượu tại tiệc cưới Ca-na (Ga 1, 18)? Khi dài dòng thuật lại rất nhiều phép lạ đức Giê-su đã thực hiện, tác giả Mác-cô muốn tô đậm nét ông thầy thuốc nơi Người ‘chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật’; đó chính là hình ảnh mà Người sẽ dùng để tự giới thiệu: “Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mc 2, 17).
            Như vậy đối với đức Giê-su, rao giảng và chữa bệnh không phải là hai công việc tách biệt nhau. Bởi nếu nội dung sứ điệp Tin Mừng Người chính là <Thiên Chúa nhân ái quan tâm đến số phận con người yếu hèn trong cả lãnh vực thể lý lẫn tinh thần>, thì chắc chắn lời rao giảng hùng hồn và sắc bén nhất sẽ phải là ‘chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền’ và ‘sua trừ ma quỉ’. Đức Giê-su hẳn có ý nói điều này khi bảo các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa.” Mác-cô còn ghi nhận thêm ‘Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỉ’ (NB. Người Do Thái thời đức Giê-su cho rằng mọi bệnh tật đều do ma qui gây ra). Người chỉ muốn cho toàn thể nhân loại được biết: Thiên Chúa từ nhân đang thật sự ở giữa họ, đồng hành với họ, cảm thông nỗi thống khổ của họ, và tích cực can thiệp theo cách thức của Người.
            Suy niệm trên chẳng có gì là quan trọng cho lắm, tuy nhiên nó sẽ giúp tôi tránh được điều mà nhiều tín hữu thường mắc phải, đó là cho rằng Tin Mừng hệ tại ở các tín điều cao siêu lắm (công thức phức tạp của Kinh Tin Kính chẳng hạn)… Và cho rằng làm bác ái là tùy nghi, tùy khả năng mỗi người, và chỉ có mục đích gia tăng công nghiệp trước mặt Chúa hầu đảm bảo phần rỗi linh hồn mình. Khi đọc Phúc Âm tôi sẽ không còn nghĩ là đức Giê-su thực hiện các phép lạ chẳng qua chỉ vì muốn chứng tỏ quyền phép vượt trội hầu thúc ép dân chúng tin lời mình..; khi mà các học thuyết Người dạy thì chủ yếu gồm toàn các qui định luân lý và giới luật này nọ. Hơn bao giờ hết tôi nhận ra Lời Tin Mừng thật nhất quán, chặt chẽ và đầy thuyết phục. <Đức Giê-su - Lời> nói lên sứ điệp tình yêu của ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…’ và tình yêu đó thật cụ thể ‘Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ’ (Ga 3, 16.17). Toàn thể cuộc đời đức Giê-su chỉ là Lời tình yêu cứu độ: Lời trong sứ điệp, Lời trong hành động, Lời nơi các phép lạ, Lời trong cái chết tự hiến trên thập giá, và Lời trong sự Phục Sinh chứa chan niềm hy vọng. Tóm lại tôi nhận ra rất rõ nội dung duy nhất của sứ vụ đức Giê-su trên trần gian là quảng bá và thể hiện mọi nơi mọi chốn một ‘Thiên Chúa yêu mến thế gian’ với trọn con người Ngài.
Là tu sĩ Sa-lê-diêng, tôi dám áp dụng cho đức Giê-su câu nói mà chúng tôi vẫn thường dùng để ám chỉ Don Bosco: “Người không đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào bất cứ việc gì, mà không phải vì…(phần rỗi giới trẻ)… chứng tỏ và thể hiện Thiên Chúa yêu mến thế gian tột độ”.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con được chia sẻ khát vọng Chúa muốn cho Tin Mừng tình yêu nhân ái được thể hiện và nhận biết ‘ở các nơi khác… các làng xã chung quanh nữa’. Con muốn rằng, là linh mục của Chúa, con không chỉ giảng dạy sứ điệp này bằng lời nói suông, mà phải bằng cả thái độ và hành động của mình. Xin cho con quảng đại dấn thận phục vụ mọi nơi và với hết mọi người. Amen 
Tác giả bài viết: Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

HƯỚNG VỀ NAGASAKI


Nagasaki là một thành phố đã bị trái bom hạt nhân thứ hai tiêu hủy cùng với hàng trăm ngàn sinh linh vào năm1945. Khoảng 350 năm trước đó, vào tháng 2 năm 1597, 26 vị tử đạo đã bị treo vào thập tự trên một ngọn đồi quay mặt hướng về thành phố Nagasaki. Họ là những linh mục truyền giáo, tu sĩ, giáo dân. Họ là những người thuộc dòng Thánh Phanxico, dòng Tên và thành viên của dòng 3 Phanxico. Họ thuộc loại giai cấp xã hội: là những giáo lý viên, nông dân, y sĩ, những người giúp việc và ở mọi lứa tuổi, nhưng tất cả 26 vị được kết hợp trong cùng với một đức tin và một tình yêu Thiên Chúa và Giáo Hội. 
Khi các nhà truyền giáo trở lại Nhật vào những năm 1860, họ ngỡ là sẽ không tìm thấy một dấu vết nào của Thiên Chúa Giáo nữa. Nhưng sau khi đã thiết lập được vài công đoạn bé nhỏ, các Ngài ngạc nhiên khám phá ra hàng ngàn tín hữu sinh sống quanh thành phố Nagasaki vẫn âm thầm, lén lút giữ vững Ðức Tin mà 26 vị tử đạo đã anh dũng tuyên xưng. 
Vào năm 1617, 26 vị này được phong á thánh và cuối cùng được tôn phong hiển thánh vào năm 1862. 
"Bản án tử hình của chúng tôi có để lại: những người bị hành quyết này đã đến từ Phi Luật Tân. Nhưng tôi, tôi không đến từ Phi Luật Tân. Tôi là người Nhật chính tông. Lý do tôi bị xử án là vì tôi đã rao giảng đức tin Kitô và thật đúng như vậy, tôi đã rao giảng Tin Mừng này. Tôi cảm tạ Chúa vì tôi được chết vì rao truyền danh Ngài. Tôi tin tưởng là tôi đã rao giảng sự thật và muốn nói với các bạn những lời cuối cùng này: Hãy cầu xin ơn Thiên Chúa giúp các bạn được hạnh phúc. Tôi vâng lời Chúa Giêsu và vâng lệnh Ngài, tôi tha thứ cho những người xử tử tôi. Tôi không hờn ghét họ. Tôi cầu khẩn Thiên Chúa thương xót tất cả các bạn và tôi hy vọng máu tôi sẽ tuôn rơi trên đồng bào tôi như là những giọt mưa giúp phát sinh nhiều hoa trái". 
Ðó là lời phát biểu cuối cùng khi đang bị treo trên thập tự của thầy Phaolô Miki, người Nhật thuộc dòng Tên, người được biết đến nhiều nhất trong số 26 vị tử đạo tại Nhật. 
Ngày nay, một thời đại mới đã khởi đầu cho Giáo Hội Nhật. Tuy là một thiểu số khiêm nhường, nhưng những người Công Giáo tại Nhật được mọi người kính nể và được hưởng tự do hoàn toàn tiếp tục rao giảng Tin Mừng và Niềm tin Thánh Phaolô Miki đã rao giảng trong cuộc sống của Ngài và trong những giây phút sắp lìa trần. 
Ước gì sự xác tin, lòng can đảm va sự sẵn sàng tha thứ của Thánh Miki được tiếp tục sống mãi trong tâm hồn các anh chị em tín hữu Nhật và trong tất cả chúng ta.


Tác giả Veritas

MỘT CÁCH TỎ TÌNH


Du khách viếng thăm hành lang nổi tiếng của nhà thờ chánh tòa Thánh Phaolô ở Luân Ðuân có thể nghe tiếng của người hướng dẫn đang thuật lại lịch sử của nhà thờ truyền đi khắp nơi chung quanh vòm mái tròn to lớn ở chánh điện, nhờ các kiến trúc đặc biệt làm tiếng nói vang dội mang âm thanh đi rất xa. Cũng vì thế, nên nếu áp tai vào tường người ta có thể nghe được những gì một người nói từ phía bên kia của vòm mái tròn, mặc dầu đó chỉ là một giọng nói thì thầm tâm sự.

Cách đây đã lâu, mượn nhà thờ chánh tòa làm nơi hẹn hò, một người hành nghề đóng giày than vãn với người yêu là chàng chưa thể tiến hành lễ cưới ngay bây giờ được. Hiện tại chàng không có cả tiền để mua da và các vật liệu cần thiết để có thể tiếp tục hành nghề, vì thế chàng đang phải thất nghiệp dài dài, đào đâu ra tiền để làm đám cưới. Nghe tin bất lành, ý trung nhân của anh chỉ biết sụt sùi khóc. 
Ðang lúc ấy, một người tình cờ đi qua hành lang phia bên kia nghe được câu chuyện thương tâm và những lời cầu nguyện của anh thợ đóng giày. O�ng ta quyết định làm một cái gì để giúp đôi trai gái được thành gia thất. Vì thế, khi chàng trai từ giã người bạn gái thất thểu ra về, ông ta cũng tiến bước theo sau để biết chỗ ở của anh ta và lập tức cho người mang đến tặng cho anh một số da. Chàng đóng giày phấn khởi bắt tay vào việc và không bao lâu công việc làm ăn phát đạt tạo đủ điều kiện để anh có thể tiến hành hôn lễ với người yêu. Mãi đến mấy năm sau, hai vợ chồng mới biết vị ân nhân của mình là ông William Gladston, vị thủ tướng Anh quốc lúc bấy giờ. 
Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến hai tư tưởng chúng ta có thể đào sâu để củng cố niềm tin Kitô của chúng ta. Ðó là: Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Người luôn lắng nghe và sẵn lòng ban cho chúng ta, con cái của Người, mọi ơn lành Người biết là sẽ mang lợi ích thật sự cho chúng ta, như vị thủ tướng Anh quốc nghe những lời tâm sự thì thầm của đôi trai gái trên và ra tay giúp đỡ họ. Vì thế, chúng ta hãy kiên tâm, bền chí trong lúc cầu xin.


Tác giả Veritas

LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI


Con gái ông Karl Marx có lần thú nhận với người bạn gái từ thủa nhỏ bà không được huấn luyện cho biết có Tôn giáo và Tín ngưỡng cũng như chính bà không cảm thấy mình có một tâm tình tôn giáo hay tin tưởng vào một thực tại vô hình nào. 
Nhưng bà tâm sự tiếp: mộ ngày kia bà tình cờ đọc được một kinh của người Kitô mà bà thầm mong ước là những câu kinh ấy được biến thành sự thật.
Nghe nói thế, người bạn gái của bà không khỏi ngạc nhiên và tò mò hỏi: "Kinh gì mà hay thế?". Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi này, người con gái ông Karl Marx chậm rãi đọc bằng tiếng Ðức: "Vater unser im Hinmel� Lạy Cha chúng con ở trên trời�". 
Có một Giám Mục kia trên đường kinh lý giáo phận, ghé thăm gia đình một bà lão. Người ta nói bà là một tấm gương cho cả lòng soi chung. Trong khi thăm, vị Giám Mục hỏi: 
- Bà thường hay đọc sách đạo đức nào nhất? 
- Thưa Ðức Cha con không biết đọc, bà cụ trả lời. Nghe nói thế, vị Giám Mục tiếp tục hỏi: "Nhưng bà hay cầu nguyện cơ mà?". Thấy Giám Mục đã biết bí quyết của mình, bà cụ thật thà thưa: 
- Thưa Ðức Cha, con chỉ biết tràng hạt thôi: Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Tin Kính. Một ngày con khởi sự đọc đến mười lần nhưng thường thì con không đọc xong. 
- Tại sao thế? Vị Giám Mục muốn biết. Bà cụ thuật tiếp: 
 - Tại vì khi con bắt đầu đọc: Lạy Cha chúng con� Con bỗng không hiểu sao Chúa có thể tốt lành đến mực cho phép một bà già hèn mọn như con được gọi ngài là Cha. Ðiều đó làm cho con phải khóc và rồi con không thể nào đọc tiếp hết chuỗi được. Nghe thuật lại kinh nghiệm trên, vị Giám Mục khuyến khích:  
- À, này bà cụ, đó là lời cầu nguyện trị giá bằng tất cả những lời cầu nguyện của chúng tôi. Bà cứ tiếp tục và luôn cầu nguyện theo câu đó. 
Tục ngữ Việt Nam có câu: "Gần chùa gọi bụt bằng anh". Ðó là tâm tình thông thường của con người. Bởi lẽ những thực tại dù to lớn đến đâu, nếu đã trở nên những công việc hằng ngày thường bị hạ thấp giá trị. 
Ước gì Kinh Lạy Cha giúp chúng ta ý thức thật sâu đậm về sự thật: Thiên Chúa là Cha chúng ta, như bà cụ đơn sơ trong câu chuyện trên đã cảm nghiệm được, đồng thời giúp chúng ta sống và thực hành những gì chúng ta luôn miệng cầu khẩn trong kinh Lạy Cha.


Tác giả Veritas
 

3 tháng 2, 2012

Sửng sốt những tuyệt tác thiên nhiên của thế giới

Sửng sốt những tuyệt tác thiên nhiên của thế giới


1. Đảo Bora Bora, Thái Bình Dương

Đây là hòn đảo thuộc xứ Hải ngoại Polynésie của Pháp nằm ở phía Nam biển Thái Bình Dương. Hòn đảo được bao bọc bằng một rặng san hô bên ngoài với một khoảng đầm phá xung quanh. Trung tâm của đảo là những gì còn lại của một núi lửa đã ngừng hoạt động, nó tạo thành 2 ngọn núi trên đảo là Pahia và Otemanu.

Bora Bora là một địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới hệ thống khách sạn và những khi nghỉ mát cao cấp. Hòn đảo cũng có một sân bay nằm ở phía bắc làm nhiệm vụ giao thông cho các du khách đên thăm và nghỉ dưỡng tại đây.

Những hình ảnh về hòn đảo Bora Bora xinh đẹp.


2. Hang động Marble Cathdral, Chile

Hang động cẩm thạch Marble Cathdral được xem là một trong những hệ thống hang động cẩm thạch đẹp nhất thế giới. Nó nằm thuộc phạm vi của hồ General Carrera, hồ nước ngọt lớn thứ 2 tại Nam Mỹ, Pantagonia, Chile. Hệ thống vách cẩm thạch trong hang đã được hình thành qua hàng ngàn năm với những hình thù kì dị hấp dẫn.

Điểm đặc biệt của hang động này là khi ánh sáng chiếu vào mặt nước sẽ phản xạ lên vách đá tại nên một màu xanh đặc trưng không nơi nào có được. Lúc này mặt nước như trở thành một tấm gương khổng lồ. Những hôm thời tiếp đẹp, nắng to thì sự phản xạ của mặt nước trở nên tốt nhất tạo nên một bữa tiệc ánh sáng bên trong hang động.

Hang động cẩm thạch với vẻ đẹp mê hoặc tại Chile.


3. Đỉnh núi Roraima, Venezuela

Đây là đỉnh núi cao nhất trong dãy Pakaraima của Nam Mỹ. Nó được phát hiện bởi một nhà thám hiểm người Anh có tên Sir Walter Raleigh vào năm 1596. Đỉnh núi là có dạng mặt phẳng diện tích 31km2 và được bao quanh bởi những vách đá dựng đứng cao khoảng 400m. Một điểm đặc biệt khác của Roraima là nó nằm trên biên giới của 3 quốc gia Nam Mỹ là Venezuela, Brazil và Guyana.

Ngọn núi thuộc địa phận Vườn quốc gia Canaima với diện tích của toàn khu vực là 30.000km2. Đỉnh núi với dạng phẳng được cho là một trong những cấu tạo địa chất có niên địa cổ nhất thế giới với niên đại lên đến gần 2 tỉ năm từ thời tiền kỷ Cambri. Trong những ngày thời tiết nhiều mây đỉnh núi như một thiên đường thực sự với mây trăng vây quanh 4 phía là điểm hấp dẫn nhất của nơi đây.

Ngọn núi phẳng đặc biệt tại Venezuela.


4. Quốc đảo Seychelles, Ấn Độ Dương

Cộng hòa là một quốc gia nằm trên biển Ấn Độ Dương với 155 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trong khu vực. Được phát hiện bởi các nhà thám hiểm từ thế kỷ 16, sau khi trải qua nhiều giai đoạn với sự cai trị của nhiều quốc gia khác nhau, năm 1976 cộng hòa Seychelles mới chính thức thành lập và thuộc khối liên hiệp Anh.

Đặc điểm của Seychelles là những hòn đảo của họ được hình thành chủ yếu từ rặng san hô và núi lửa nhừng hoạt động. Với vị trí địa lí có khí hậu nhiệt đới nơi đây đã trở thành một điểm du lịch lý thú cho du khách khắp nơi trên thế giới. Mặc dù kinh tế vẫn còn chưa phát triển vượt bậc nhưng ngành công nghiệp không khói đã đóng góp 25.4% GDP hàng năm cho đất nước này.

Những hòn đảo đầy hấp dẫn của quốc đảo Seychelles, Ấn Độ Dương.


5. Thác nước Multnomah Falls, Mỹ.

Thác Multnomah Falls là một trong những thác nước cao nhất tại Mỹ với chiều cao tổng thể lên đến 189m. Nó gồm 2 phần 1 dòng nước lớn hơn cao 165m đổ từ đỉnh núi xuống sau đó chảy một chặng nghỉ nằm ngang khoảng 3m sau đó đổ xuống đáy sau 21m nữa.

Thác nước này thuộc địa phận dãy núi Mt. Hood, một trong những dẫy núi cao nhất nước Mỹ. Multnomah Falls là một thác nước chảy quanh năm bất chấp thời tiết và người ta đã xây dựng 1 cây cầu bê tông cốt thép tại nơi dòng nước chảy theo chiều ngang để phục vụ du khách tham quan. Điểm đặc biệt khi ghé thăm địa danh này là nếu đứng ở dưới chân thác thì bản phải ngửa hết đầu mới có thể nhìn thấy đỉnh thác.

Thác nước đẹp tuyệt vời tại Mỹ.


Tùng Đinh
Theo: VTC