Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

2 tháng 4, 2012

CÔ ĐƠN và NHỤC NHÃ

NỖI CÔ ĐƠN Bạn có bao giờ cảm thấy cô đơn cùng cực hoặc bị nhục nhã ê chề? Chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần có cảm giác như vậy. Nhưng có lẽ nỗi cô đơn và nhục nhã của chúng ta không là gì so với Chúa Giêsu. Mọi người đều phản đối Ngài, ghét Ngài và đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá” (Mt 27:22). Ngài không bằng tên cướp khét tiếng Baraba. Trước mắt mọi người, Chúa Giêsu là kẻ thua cuộc và hoàn toàn chiến bại!

Tại vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu chỉ tâm sự với Phêrô và hai con ông Dêbêđê: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Nỗi buồn rầu và lo sợ quá lớn khiến bản tính con người nơi Ngài tưởng chừng không chịu nổi. Và rồi Ngài đã phải thốt lên: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39).
Thật vậy, nỗi cô đơn quá lớn! Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài càng cô đơn hơn, vì ngay cả các môn đệ – những người đã bao năm đồng hành với Ngài, từng khâm phục Ngài, từng từ bỏ tất cả để theo Ngài và cùng chia vui sẻ buồn với Ngài – mà giờ đây cũng chuồn hết, rời bỏ Ngài, chỉ dám đứng xa xa, thậm chí còn chối bỏ Ngài, không dám nhận Ngài là người thân. Và rồi Ngài lại thốt lên trong nỗi cô đơn tột đỉnh: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Thực sự đó là cảm giác tứ cố vô thân!
Có lẽ không còn nỗi cô đơn nào lớn hơn thế nữa, cảm giác mà mình thấy hầu như những người thân nhất cũng ghét bỏ mình, xa lánh mình. Khi đó, người ta không còn biết nói gì – vì không ai hiểu mình, không có ai để trút bầu tâm sự, mình nói đúng cũng bị cho là sai!
SỰ NHỤC NHÃ
Chính Giuđa đã dùng nụ hôn để làm dấu hiệu ai là Giê-su để bọn thủ ác bắt. Nụ hôn là biểu hiện yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng nụ hôn để biểu hiện lòng phản trắc. Sau khi bắt và dẫn Ngài đi, họ lột trần Ngài, bịt mắt Ngài, khạc nhổ vào mặt Ngài, đấm đánh hung bạo và tát Ngài, rồi còn mỉa mai: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông vậy?” (Mt 26:67-68; Lc 22:64). Chưa thỏa lòng, họ còn kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài và trao cho Ngài một cây sậy làm vương trượng, rồi chế nhạo: “Vạn tuế Vua dân Do thái” (Mt 27:29).
Kẻ qua người lại cũng đều nhục mạ Chúa Giêsu, họ vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong 3 ngày lại xây được, hãy tự cứu mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27:39). Nhục nhã quá!
Trên Đồi Sọ, người ta nhẫn tâm cho Người uống rượu pha mật đắng (Mt 27:33-34), lại còn thách thức: “Hắn cậy vào Thiên Chúa thì bây giờ Chúa cứu hắn đi, nếu quả thật Chúa thương hắn” (Mt 27:43). Khi Ngài bị đóng đinh và treo trên thập giá, đau đớn vô cùng vì mồ hôi và máu ra nhiều, Ngài kêu “khát” thì họ lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm, rồi buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống (Mt 27:48; Lc 23:36).
Ngài chịu nhục nhã ê chề đến tột cùng, nhưng Ngài vẫn im lặng, không than thân trách phận và cũng không hề trách những người nhục mạ mình, mà Ngài lại cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Bị sỉ nhục vậy mà Ngài vẫn độ lượng và yêu thương vô bờ bến, vô điều kiện, làm sao phàm nhân khả dĩ hiểu thấu?
Cuối cùng, Chúa Giêsu kiệt sức và nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Ngài chết tức tưởi quá! Nhưng tất cả là đức vâng lời. Trời đất bỗng rung chuyển kỳ lạ. Thấy vậy, những người giết Ngài đã phải công nhận: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54).
CẢM NHẬN
Chúa Giêsu đã từng cảnh báo: “Tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mt 26:41). Thân phận con người quá mỏng dòn và yếu đuối, đầy sai lầm và tội lỗi. Rất cần có Chúa! Thánh Têrêsa, có lần sau nỗi cô đơn xao xuyến, cũng đã thắc mắc: “Hồi nãy Chúa ở đâu?”. Chúa trả lời: “Cha vẫn cùng con chiến đấu”.
Tôi cũng đã có những lúc cảm thấy lạc loài những khi thân nhân lần lượt giã từ cuộc đời. Tôi cô đơn ngay giữa những người khác vì tư tưởng mình không hợp với những họ, và có vài lần tôi đã vấn nguyện: “Sao Chúa bỏ rơi con? Chúa còn thương con không?” (x. Mt 27:45). May mà vẫn duy trì được niềm tin vào Thiên Chúa. Cảm nhận một chút nào đó về nỗi cô đơn và nhục nhã của Chúa Giêsu để có thể tiếp tục hành trình cuộc sống, dù chông gai và cạm bẫy rất nhiều trên đường đời – hôm nay và ngày mai.
Lạy Chúa, xin Ngài luôn đồng hành, độ trì và nâng đỡ chúng con. Xin cho chúng con kiên vững ba đức đối thần và biết phát triển các đức đối nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, vì cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

All Rights Reserved ®
Tác giả bài viết: Trầm Thiên Thu

SI TÌNH

Trong cơ thể con người, đa số là nước, các chất khác không đáng kể, phân chất ra để bán thì không có gì đáng giá. Nhưng cái vô giá lại là máu. Gọi là máu vì có màu đỏ, khác nước, nhưng cũng đều là chất lỏng. Nước nhiều nghĩa là con người rất… “mềm”, có thể đồng nghĩa với rất yếu đuối! Thế nên thánh Phaolô đã “tự thú”: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19).

Não bộ là trung tâm điều khiển, nhưng trái tim mới chính là “trung tâm sự sống”, là nguồn sống. Những người bị điên khùng, bị thiểu não, hoặc bị bại não và sống thực vật, thậm chí là chết lâm sàng, nhưng họ vẫn sống nhờ trái tim hoạt động. Tim hoạt động nghĩa là máu còn lưu thông. Vậy MÁU rất quan trọng cho sự sống. Chúng ta thường nói người này hay người nọ “máu lắm” là vậy. Cũng chính vì máu đó mà Thánh Tâm Chúa Giêsu là “lò lửa yêu thương” hằng cháy bừng. Nhưng máu Ngài không bạo động, không thù hằn, không ghen ghét,… mà máu Ngài chỉ đầy chất YÊU. Chẳng vậy mà trước khi chết, Ngài còn “làm phép” để trao ban chính Máu Thịt Ngài làm thần lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Độc chiêu quá!
Đáng lẽ chúng ta, những tội nhân, phải bị Thiên Chúa trừng phạt vì đã phạm những tội quá kinh khiếp và tái phạm quá nhiều lần, tiếp tay với Giuđa và ăn chia với ma quỷ, đồng thời lại “rửa tay” như Philatô, nhưng Thiên Chúa đã bắt chính Con Yêu Dấu là Chúa Giêsu “phải” chịu hình phạt là chết thay cho chúng ta. Chúa Giêsu biết mình bị hàm oan nhưng Ngài hết lòng tuân phục Cha nên vui nhận cái chết nhục nhã ê chề nhất: “Đức Kitô đã cứu chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, trong khi vì chúng ta mà chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (Gl 3:13).
Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Con người còn cảm nhận được điều “khác người” đó huống chi Đức Kitô. Quả thật, Ngài là một người si tình độc nhất vô nhị, phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả!
Có hai người, A làm lỗi, B không làm lỗi. Nhưng A cứ đổ riệt cho B và cha mẹ cũng nhất quyết xử phạt B. Nếu chúng ta là B thì sao? Hẳn là chúng ta phản đối kịch liệt, cần thiết thì sẽ nhờ tòa án phân xử.
Còn Chúa Giêsu, Ngài “khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19), không hề ý kiến, không một lời than thân trách phận, và cũng không trách kẻ đã làm hại mình, thậm chí còn tha thứ cho kẻ dã tâm đó: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không hiểu việc họ làm” (Lc 23:24). Kẻ thủ ác cố ý mà Ngài vẫn nghĩ tốt cho họ, nói là “họ không hiểu”. Cchúa quá “khác người” và “ngược đời” hết cỡ thợ mộc!
Tại sao Đức Kitô phải chết? Vì yêu thương chúng ta, yêu thật lòng, yêu hết mức, yêu tới nơi tới chốn, yêu như cuồng như dại, yêu đến cùng, tình yêu thương đó đã khiến Ngài chảy đến giọt máu và giọt nước cuối cùng.
Chúa Giêsu hành động chứ không nói để mà nói. Ngài làm trước và đòi buộc chúng ta cũng phải làm như Ngài: “Hãy yêu kẻ thù, hãy làm điều tốt cho người ghét mình” (Lc 6:27). Ngài không hưởng thụ mà toàn tâm toàn lực phục vụ: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (Mt 20:28).
Lạy Chúa Giêsu, là Trưởng Tử, là Thầy, là Người Yêu và là Bạn Hiền của chúng con! Ngài ra đi để chuẩn bị cho chúng con sẽ theo Ngài về với Cha nay mai, kẻ trước người sau, xin giúp chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để xứng đáng cùng Ngài phục sinh vinh quang. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Giờ thứ chín
Tác giả bài viết: Trầm Thiên Thu

Suy Niệm Tuần Thánh - Chúa Nhật Lễ Lá

1 tháng 4 năm 2012 Truyền thống Công Giáo bắt đầu một tuần lễ cực thánh, chấm dứt 40 ngày chay tịnh bằng việc cử hành tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem, để rồi sau đó Ngài bị bắt, bị đánh đòn, tra tấn, bị kết tội vác thập giá lên núi Sọ, bị đóng đinh và chết trên thập tự giá, nhưng ngày thứ ba Ngài đã Phục Sinh. Cũng qua Thánh Kinh, Chúa Giêsu vinh quang khải hoàn vào thành thánh không phải ngồi trên một con chiến mã, nhưng là trên lưng một con lừa. Những người tham dự vào cuộc khải hoàn ấy không phải là những đoàn quân anh dũng, khí giới tối tân, nhưng lại là những thường dân, những em nhỏ, những con người đơn sơ và chân thật. Và điều này gợi lên trong ta ý nghĩa gì? Riêng đối với những tâm hồn yêu mến và muốn theo bước chân Ngài, chúng ta suy nghĩ gì qua biến cố rất đặc biệt này?


Suốt 3 năm miệt mài, vất vả rao truyền chân lý, chữa lành bao kẻ tật nguyền, thực hiện bao phép lạ vỹ đại, hôm nay là ngày Chúa Giêsu được vinh hiển nhất, được tôn kính trọng vọng nhất. Dân chúng đứng chật hai vệ đường, người người vui mừng reo hò. Họ tung hô vạn tuế và không ngừng ca tụng: “Hoan hô con Vua Ðavít. Chúc tụng Ðấng nhân danh Thiên Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:9). Lòng sùng mộ và yêu kính của dân chúng bấy giờ đã khiến họ hành động một cách hết sức đặc biệt. Họ cởi áo ngoài trải đường như một tấm thảm kéo dài trên đường Ngài đi qua. Và họ cầm trên tay ngành vạn tuế để vẫy chào Ngài khi Ngài đi qua chỗ họ. Thánh Kinh kể lại, số người theo tung hô Ngài mỗi lúc một thêm đông, đến độ khiến các Pharisiêu phải ghen tị.

Nhưng nếu bạn là người đang đứng hai bên đường và quan sát đám rước hôm đó, bạn sẽ thấy một chi tiết có thể khiến bạn phải dừng lại mà suy nghĩ. Ðó là Chúa Giêsu không cỡi trên voi, trên ngựa, hay không ngồi trên kiệu mà tham dự cuộc khải hoàn này, nhưng Ngài lại ngồi trên lưng một con lừa con. Mátthêu ghi: “Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các anh hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các anh hãy mở dây và dẫn về đây cho thầy” (Mt 21:2). Ngài làm thế còn để ứng nghiệm lời Thánh Kinh: “Hãy nói với thiếu nữ Sion rằng, này vua các ngươi đang ngự đến, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa con, là con lừa mẹ” (Mt 21:5).

Chúa cỡi lừa con để khải hoàn vào Giêrusalem. Ngài không cỡi voi hay cỡi ngựa, hoặc ngồi trên kiệu vì Ngài không muốn làm các thiếu nữ Sion phải hoảng sợ. Ngài không muốn bất cứ ai nhìn Ngài bằng cái nhìn đầy kinh ngạc, hoảng hốt và trốn tránh. Ngài không muốn tạo hình ảnh một kẻ có quyền, hưởng thụ, và kiêu hãnh. Cỡi voi thì phải có người phục dịch. Ngồi kiệu cũng phải có kẻ khiêng. Ngồi trên lưng ngựa tuy đơn giản hơn ngồi trên mình voi hay trên kiệu, tuy nhiên, ngồi trên lưng ngựa vẫn là hình ảnh của những kẻ anh hùng, những kẻ chiến thắng. Mà đã là anh hùng, chiến thắng tất nhiên có quyền kiêu hãnh, và vì thế cũng khiến nhiều người phải sợ hãi, nể phục.

Chúa Giêsu đã không muốn bất cứ ai phải bắt buộc theo và miễn cưỡng mến Ngài. Ngài cũng không dùng sức mạnh, quyền lực của kẻ chiến thắng để khống chế và thu phục nhân tâm. Chính vì thế những hình ảnh liên quan đến sức mạnh quyền lực đều bị Ngài loại bỏ, từ chối. Ngài chỉ muốn một mình đơn sơ ngồi trên lưng một con lừa con, nhỏ bé để tiến vào thành. Một hình ảnh nói lên vẻ thanh bình, đơn sơ, nhẹ nhàng, và tự nhiên. Và đó chính là Ngài, con chiên Thiên Chúa, Ðấng cứu độ trần gian.

Cũng qua Thánh Kinh bạn và tôi biết rằng Ngài là vua chứ không phải chỉ là con Vua Ðavít như người ta đã chúc tụng Ngài. Danh Ngài đáng được vang vọng chúc tụng trên các tầng trời, vì Ngài còn là Chúa tạo thành vũ trụ. Cả nhân loại phải phủ phục dưới chân Ngài và trước nhan Ngài. Mọi đầu gối, như Thánh Phaolô đã viết, trên trời, dưới đất và trong lòng đất phải quì gối trước mặt Ngài. Do đó, nếu Ngài dùng voi, dùng ngựa, dùng kiệu hay bất cứ phương tiện di chuyển nào khác tối tân và tiện nghi nhất của thời bấy giờ thì vẫn chỉ là những phương tiện tầm thường chưa xứng với Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã không làm như thế. Hành động ấy của Ngài như nói trước với chúng ta về những gì mà Ngài sẽ làm kế tiếp như rửa chân cho các môn đệ Ngài. Chấp nhận bị bọn lý hình hành hạ và chế diễu. Chấp nhận bản án bất công. Và nhất là chấp nhận bị đóng đinh chết treo trên thập tự giá.

Làm sao tâm trạng của một người mang trong mình hình ảnh chiến thắng hiển hách, ngồi trên lưng một con chiến mã, ngồi trên lưng một con voi, ngồi trong một cái kiệu sang trọng, hay như phương tiện di chuyển thời nay là phản lực cơ, trực thăng, hoặc limousine đầy đủ tiện nghị tiến lên giữa tiếng tung hô, lại có thể chấp nhận được việc quì gối xuống, bưng chậu nước đến trước mặt các môn đệ của mình để rửa chân cho họ.

Làm sao một vị đại tướng, một hoàng đế, một nữ hoàng, một tổng thống, một thủ tướng uy nghi duyệt qua hàng quân danh dự để tiến lên lễ đài giữa tiếng tung hôn vang dội của một rừng người lại có thể dễ dàng chấp nhận chịu cảnh trao nộp, chịu đánh đòn, chịu khạc nhổ vào mặt, chịu đội mão gai, chịu xét xử bất công, và chịu đóng đinh chết trần truồng trên thập giá mà không một lời than van, trách móc.

Ngồi trên lưng ngựa, lưng voi. Ngồi trong kiệu, trong trực thăng, phản lực cơ hay limousine  thì không dễ cúi mình xuống được. Nhất là trong tư thế của kẻ có quyền, kẻ chiến thắng. Cũng không dễ chấp nhận thua thiệt, không dễ đón nhận nhục nhã, không dễ vâng phục thiên ý. Cứ nhìn bọn Pharisiêu qua thái độ ghen tức của bọn họ với Chúa Giêsu khi thấy Ngài được dân chúng tung hô, chúc tụng. Hoặc cứ nhìn vào những Pharisiêu thời đại mới hiểu rõ ý nghĩa và hành động của Ngài.  

Tóm lại, phải đơn sơ, phải nhân từ, và phải hiền hậu thì họa may mới có thể đón nhận được những thử thách, bất công, và nhục nhã. Và có lẽ vì lý do đó, Chúa đã dùng con lừa để làm phương tiện di chuyển hôm đó. Làm như vậy là Chúa muốn nói với mọi người rằng, Ngài xứng đáng với tất cả mọi lời chúc tụng. Ngài chính là vua. Ngài là vua chiến thắng. Nhưng trên hết, Ngài là một vị vua nhân từ. Vua thái bình. Vua của tâm hồn con người. Và vì thế, Ngài đã cỡi lừa con mà không cỡi chiến mã.

Chúa là vua nhân từ, hiền dịu chứ không phải là vua quyền uy, độc tài, và hà khắc. Ngài thương yêu tất cả. Ngài mong mọi người hãy đến với Ngài, để học cùng Ngài, vì Ngài “hiền lành và khiêm nhường”. Làm như vậy, chúng ta mới dễ mở rộng lòng mình đón nhận mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh mà Ngài đã thực hiện vì chúng ta và cho nhân loại chúng ta.

Tác giả bài viết: Trần Mỹ Duyệt

Lừa con chưa ai cưỡi bao giờ

CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM B Suy niệm Tin Mừng Mc 11, 1-10


            Trong trình thuật đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem với tư cách là đấng Mê-si-a, cả bốn Phúc Âm đều ghi nhận chi tiết mượn lừa và cỡi lừa; thậm chí có tác giả như Mác-cô và Lu-ca còn xác định chi tiết hơn Người cỡi lên ‘con lừa con chưa ai cỡi bao giờ’. Hình ảnh đức Giê-su khải hoàn tiến vào Thành Thánh ngồi trên lưng lừa thật ấn tượng; ấn tượng không phải vì vẻ uy nghi bề ngoài (bức tranh Na-pô-nê-ôn vượt qua dãy Alps của Jacques-Louis David), nhưng vì một một nét gì sâu sắc khó tả.
            Tác giả Mát-thêu đã hé cho thấy ý nghĩa của cảnh tượng đó, khi trích dẫn lời ngôn sứ Da-ca-ri-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ!... Vì kìa đức Vua của ngươi đang đến với ngươi; Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9). Ý nghĩa là như thế, nhưng tại sao? Các chú giải quen thuộc như “Các ngôn sứ đã loan báo một vị vua hiền hòa, đến viếng thăm dân, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, như người dân đơn sơ hiền hòa, thay vì ngồi trên lưng ngựa như vị tướng quân” (Christian Community Bible) thực ra chưa giải thích được gì, hoặc có nếu có thì cũng mới chỉ cho thấy một nét bên ngoài đã từng được nhắc đến (như thường thấy nơi các diễn viên).
            Tra cứu Cựu Ước, tôi được biết trong đời thường, và đối với người Do Thái, việc cỡi lừa chẳng có một ý nghĩa gì lớn. Cho tới thời Sa-lô-mom, các tổ phụ, các vua, các quan án hay những người giầu có, vị vọng cũng đều cỡi lừa cả (Tl 10,3; 1,14; 1Sm 25,23). Lừa đồng thời cũng từng là phương tiện chuyên chở phổ thông của cả vùng Pa-lét-tin thời đó. Kể từ thời hậu Sa-lo-mom sau khi ngựa chiến được du nhập, lừa trở thành biểu tượng của thời bình, cũng như ngựa của thời chiến. “Kìa đức Vua đến với ngươi, hiền hòa trên lưng lừa!”. Đức Giê-su tự giới thiệu mình với đám quần chúng Do Thái như vị Vua Hòa Bình, khác xa quan niệm chính trị về một đấng Mê-si-a đánh đuổi ngoại xâm được các thượng tế và luật sĩ truyền bá. Sau này, trước mặt tổng trấn Phi-la-tô của chính quyền Rô-ma, Người cũng sẽ thẳng thừng tuyên bố cùng một nội dung đó (Ga 18,36-38).
            Đối với những ai am tường Cựu Ước hơn, khi nhắc tới chi tiết ‘Vua ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ’ chắc hẳn sẽ gợi nhớ hai giai thoại: Ap-ra-ham sát tế I-xa-ác và con lừa cái của ông Bi-lơ-am. Câu chuyện sách Sáng thế chương 22 thuật: “Ông Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem theo hai đầy tớ và con ông là I-xa-ác. Ông bổ củi dùng để đốt của lễ toàn thiêu… rồi lên đường tới nơi Thiên Chúa bảo… Sang ngày thứ ba, ngước mắt lên, Áp-ra-ham thấy nơi đó ở đàng xa, ông bảo đầy tớ: “Các anh ở lại đây với con lừa, còn cha con tôi đi lên tận đàng kia làm việc thờ phượng, rồi sẽ trở lại với các anh”… Ông Áp-ra-ham lấy củi dùng để đốt của lễ toàn thiêu đặt lên vai I-xa-ác, con ông. Ông cầm lửa và dao trong tay, rồi cả hai cùng đi…” I-xa-ác trước khi bị cha mình sát tế, đã vác củi thay con lừa mang nặng. Còn sách Dân số chương 22 thì kể câu chuyện Bi-lơ-am, thầy sấm của dân Ma-đi-an, cỡi con lừa cái của mình chạy trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Ba lần con lừa ‘thấy thần sứ của Đức Chúa đứng trên đường, gươm trần trong tay…’ và nó đã tìm cách tránh đường. Sau cùng thần sứ nói với Bi-lơ-am: “Con lừa cái thấy Ta, thì nó đã tránh mặt ta tới ba lần. Giả thử nó không tránh mặt Ta, thì chắc chắn Ta đã giết chết ngươi, còn nó thì Ta đã để cho sống…” Một con lừa gợi nhớ hy tế vâng phục, con kia nhắc nhở tha thứ khỏi cơn thịnh nộ.
            Như vậy cảnh tượng đức Giê-su khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem cỡi trên lưng lừa không đơn thuần chỉ là một hình ảnh gây ấn tượng. Nếu Hy tế Thập giá là cả một mạc khải vĩ đại về Thiên Chúa tình yêu và cứu độ, thì hình ảnh này chính là một phần của mạc khải đó (cũng như hình ảnh con rắn đồng trong Ga 3, 14-18). Nó nói lên một Thiên Chúa hiền hòa, không kết án, không luận phạt. Nó là hình ảnh rất Do Thái về một đấng Mê-si-a hiền hòa và xót thương, cứu vớt và tha thứ. Đấng Mê-si-a, ‘Đấng ngự đến nhân danh Chúa’ phải là như thế, không thể khác được.
            Lạy Đấng Mê-si-a hiền hòa cỡi trên lưng lừa con, ai có thể mở miệng tung hô và đón nhận Người cách nhiệt tình nhất nếu không phải là những người tội lỗi thấp hèn? Nếu con không biết tung hô lòng từ bi nhân hậu Chúa, biểu lộ cách rực rỡ nơi mầu nhiệm Thập Giá, thì như Chúa nói: “sỏi đá cũng sẽ kêu lên!” Xin cho tâm hồn con không bị trai cứng còn hơn cả sỏi đá tới độ không biết mở miệng lớn tiếng ca tụng tình thương cứu độ Người đã thực hiện trên thập giá vì yêu con. Amen
Tác giả bài viết: Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

TU ÐÂU CHO BẰNG TU NHÀ THỜ CHA KÍNH MẸ MỚI LÀ ÐẠO CON


Dương Phủ sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.
Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền triết.
Ði được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng. vị lão tăng khuyên Dương Phủ: "Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được Phật".
Dương Phủ hỏi vặn lại: "Phật ở đâu?". Vị lão tăng giải thích: "Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy".
Dương Phủ nghe lời quay về nhà. Ði dọc đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Ðức Phật mà vị lão tăng đã mô tả.
Từ đấy, Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.
Thứ nhất thì tu tại gia
Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.
Ðể yêu thương con người một cách trọn vẹn, Chúa đã trở thành một con người. Chúa có cha, có mẹ. Chúa sinh ra trong một gia đình... Con người không chỉ được cứu rỗi một cách lẻ loi, nhưng trong một gia đình. Con người cần có một gia đình để sinh ra, để lớn lên và thành toàn... Tại Nagiaréth, Chúa đã lớn lên trong ân sủng và dáng vóc. Chúa đã vâng phục Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chúa đã học đọc, học viết và ngâm nga từng câu kinh thánh với Mẹ Maria. Chúa cũng học cách sử dụng từng dụng cụ trong xưởng mộc của Thánh Giuse.
Trong ba năm sống đời công khai, ngôn ngữ vàcách suy nghĩ của Chúa phản ánh phần nào sự giáo dục mà Chúa đã thụ hưởng nơi cha mẹ.
Xin Chúa thánh hóa tất cả mọi gia đình Việt Nam. Xin Chúa ban cho bậc cha mẹ ý thức được trách nhiệm giáo dục của họ. Xin Chúa ban cho con cái lòng hiếu thảo để biết vâng phục, kính yêu và phụng dưỡng cha mẹ, nhất là trong lúc tuổi già của các ngài... Và xin cho mọi gia đình Việt Nam luôn biết tranh đấu để bảo vệ sự hiệp nhất trong gia đình và biến gia đình thành Giáo Hội nhỏ của Chúa.





Tác giả Veritas

1 tháng 4, 2012

BÀI GIẢNG THÁNH LỄ CHIỀU" TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA" (AUDIO)

        Chủ nhật Lễ Lá :ngày 01-04-2012, Lúc 17h (Thánh lễ chiều)
     Giáo xứ Thiên ân đã diễn ra THÁNH LỄ " TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA "
 ( làm phép và rước lá) do cha Lân chủ sự.
        Xin mời xem hình và nghe bài giảng.






( Xin Click vào > trên để nghe bài giảng)

BÀI GIẢNG TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA (AUDIO)

     Chủ nhật Lễ Lá :ngày 01-04-2012
Giáo xứ Thiên ân đã diễn ra THÁNH LỄ" TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA "
cho thiếu nhi ( làm phép và rước lá) do cha chánh Xứ Lê Hoàng chủ sự. Sau thánh lễ có diễn nguyện Cuộc Thương Khó của Chúa do thiếu nhi diễn xuất.
     Xin mời xem hình và nghe bài giảng.






(Xin click vào > trên để nghe bài giảng)