Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

24 tháng 11, 2012

TẤM GƯƠNG TRONG LÂU ÐÀI VERSAILLES

    Lâu đài Versailles ở ngoại ô Paris là một trong những danh lam thu hút nhiều du khách nhất. Trong lâu đài, nơi mà du khách cảm thấy bị giữ chân lâu nhất đó là phòng khánh tiết bằng pha lê, được trang bị bằng hàng ngàn tấm kính từ trên trần nhà đến các vách tường. Du khách sẽ ngỡ ngàng vì một hiện tượng lạ lùng: Nếu bạn đưa tay ra và chỉ về một phía nào đó, bạn sẽ thấy có hàng trăm ngàn cánh tay và hàng ngàn khuôn mặt đang hướng về bạn như đang ngắm nhìn bạn. Bạn sẽ cảm thấy như mọi người đang chú ý đến bạn. Nhưng nhìn cho kỹ thì tất cả những cánh tay, tất cả những khuôn mặt đó đều là của bạn. Ðó là hình ảnh của mỗi người trong chúng ta. Ai trong chúng ta cũng cho mình là quan trọng nhất. Tất cả mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi lời nói, đều tập trung vào bản thân chúng ta và trong lòng chúng ta không còn một chỗ trống nào dành cho người khác. Cái tôi trong chúng ta có thể là một trở ngại cho tương giao giữa chúng ta và người khác cũng như tương giao giữa chúng ta và Chúa. Sự sống của Chúa chỉ có thể lớn mạnh trong chúng ta và sự sống của chúng ta chỉ có thể triển nở là lúc chúng ta thực sự sống cho Chúa. Lời của Ngài phải tiêu diệt cái tôi ích kỷ trong chúng ta để chúng ta có thể lớn lên trong Người. Nói như thánh Gioan Tẩy Giả khi gặp chúa Giêsu: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại". Thưa bạn, đó là bí quyết trong cuộc sống của người Kitô chúng ta.
Tác giả Veritas

23 tháng 11, 2012

QUAN NÓI ĐÚNG TÔI LÀ VUA!


Tin Mừng Ga 18,33b-37       
Khi ấy, quan Phi-la-tô nói với Đức Giê-su rằng: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?" Đức Giê-su đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?" Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" Đức Giê-su trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này." Ông Phi-la-tô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giê-su đáp : "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”

CHÚA GIÊSU KYTÔ LÀ VUA ?

Lúc còn thiếu nhi, hoạt động trong hội đoàn Thiếu nhi Thánh Thể, đoàn chúng con do anh Nguyễn Văn Vinh làm trưởng , anh tập bài hát “: Lạy Chúa Kytô là Vua, là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa. vì Chúa đã phán ngày xưa trước mặt quan trấn hỏi Chúa : thật đúng như lời quý quan : Ta là Vua.

1. Mừng lễ Chúa Kitô bằng tước hiệu Vua, là ta tuyên xưng Chúa Kitô là Vua, tuyên xưng Ngài có quyền vua trên vũ trụ, trên muôn loài muôn vật và tất cả đều thuộc Ngài.
Chúa Kitô làm Vua không theo cách thế một ông vua trần gian. Vua trần gian nắm hết mọi quyền bính trong tay, bắt người khác phục vụ, bắt người khác làm nô lệ mình. Trái lại, Chúa Kitô làm Vua, đem sự thật đến giải thoát nhân loại khỏi sai lầm, đem ơn cứu độ đến phân phát cho kẻ tin được sống đời đời, đem tình thương, ơn bình an đến cho nhân loại, quy tụ muôn loài, muôn vật lại, kéo cả vũ trụ lên tới ngài. Chúa  Kytô là vua Chân lý, vua Sự thật .
Vậy tại sao Hội Thánh dùng đoạn Phúc âm của thánh Gioan mô tả Chúa bị quan Philatô hỏi cung, xét xử ? Đọc bản văn nầy trong lễ tôn vinh Chúa làm Vua xem ra cũng kỳ, hình như không thích hợp với “ngôi vua”, điều nầy muốn nói Chúa Kitô làm Vua khác hẳn quan niệm trần gian. Bản văn nầy giúp ta hiểu Chúa Kitô làm Vua thế nào, cải chính những ai nghĩ rằng đạo Công giáo còn dùng những “tước hiệu phong kiến”.
Philatô đón tiếp Chúa Kitô bằng một thái độ khinh bỉ, mở miệng hỏi một câu đầy mỉa mai : Ông có phải là Vua Do Thái không ?  Dân Do thái là dân bị trị , Philatô là quan lớn nhưng ông cũng biết dân nầy sẵn sàng chống ông mặc dầu ông đã thẳng tay đàn áp kể nổi dậy. Ông hiểu thủ lãnh của dân nầy nộp cho ông  “một người tự xưng là vua Do thái” tức là chống lại hoàng đế Roma, tức là nhà ái quốc : sao họ lai nộp nhà ái quốc của minh ? Đây cò thể  họ nộp cho ông “một thằng điên” để ông rơi vào cảm bẫy xét xử một thằng diên, làm trò cười cho thiên hạ !
Câu trả lời của Chúa Kitô mặc nhiên xác nhận “là Vua Do Thái” vì Chúa muốn Philatô xác định rõ quan điểm của ông : Tự mình quan nói thế hay có ai khác nói với quan về tôi ? Nghe Chúa nói như vậy, Philatô đâm ra cáu kỉnh vì theo thói thường người bị hỏi cung chỉ trả lời theo câu hỏi chứ không được phép hỏi lại, vì thế, Philatô trả lời : Há tôi lại là người Do Thái sao ? Dân tộc ông cùng các Thượng tế đã nộp ông cho tôi. Vậy, ông đã làm gì ? Lần nầy Chúa Kitô trả lời rõ ràng về  Nước của Ngài, một Nước không thuộc về thế gian nầy, và Ngài quả quyết mình là Vua, đến thế gian để làm Vua, để làm chứng cho sự thật . Ai đứng về sự thật  thì nghe tiếng tôi . (Gioan 18,33b-37)
Như vậy, không phải Chúa Kitô về trời vinh hiển mới làm Vua, thật sự Chúa đến thế gian để làm Vua một Nước không thuộc về thế gian  nhưng làm vua thi hành sự thật trên thế gian nầy. Điều nầy Philatô không hiểu nhưng đã làm ông phải công nhận con người của Chúa.
Sứ mệnh của Chúa Kitô là mạc khải Thánh Ý Chúa Cha, kêu gọi mọi người tin và thi hành Lời Ngài giảng dạy, tức là nói về sự thật, giảng về sự thật. Sự thật nầy dân Israen đã bác bỏ, đã lên án và đang nộp Đấng chân thật cho tòa án Rôma.
Philatô khơng hiểu sự thật của Chúa nói. Phái khắc kỷ (sống tu hành bằng kiêng khem nhiều) xem các nhà hiền triết là vua sự thật . Người Hy lạp định nghĩa sự thật là khi tư tưởng đúng hợp với sự vật (veritas est adaequatio rei  et intellectus) 
Sự thật nơi Chúa Kitô là sự thật về Chúa Cha, về ý định của Chúa Cha muốn cứu rỗi mọi người, và Chúa Kitô là Con Chúa Cha xuống làm người, rao giảng cho mọi người. Ai tin Chúa Cha thì cũng phải tin Chúa Kitô và thi hành giáo lý của Ngài tức là để cho tư tưởng, việc làm của mình đúng hợp với Lời Chúa dạy, họ đạt tới chân lý, tới sự  thật. Ai không tin, họ đi trong lầm lạc, tội lỗi. Chính Lời Chúa là lời chân thật vừa soi dẫn vừa phát xét hành động của mỗi người.
Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô làm Vua, ta xin Chúa làm vua tâm hồn, tư tưởng và hành động của ta. Chúa  chịu chết để làm chứng cho Giáo lý của Ngài rao giảng, cho sự thật, đến lượt ta cũng phải dùng đời sống của mình làm chứng cho Chúa Sự Thật.

                                                    Lm Fx Nguyễn Hùng Oánh

Có phải ông tự ý nói hay chỉ là nghe người khác nói?

CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN – NĂM B ĐỨC KI-TÔ VUA Suy niệm Tin Mừng Ga, 18, 33b-37

Khẩu hiệu này chẳng lạ lẫm gì đối với bất cứ ai. Là Ki-tô hữu chúng ta đã chẳng ngàn lần tuyên xưng, đặc biệt trong những ngày cuối năm phụng vụ, khi chúng ta nhận ra rằng mọi quyền bính đều có thể sụp đổ như cái vũ trụ bao la rộng lớn này… duy chỉ có quyền bính độc nhất của Thiên Chúa là sẽ tồn tại đến muôn đời muôn kiếp. Thế nhưng khi tuyên xưng như thế, riêng tôi lại thấy mình chẳng có liên quan gì nhiều cho lắm. Tôi đâu có nhiều quyền bính, nên có gì phải sợ quyền uy Ngài, như Phi-la-tô hay Hê-rô-đê ngày xưa. Thản hoặc khi nghe mọi người xưng tụng, tôi thấy mình cũng phải suy tôn thôi, hoặc để khỏi bị uy quyền Ngài trừng phạt, hoặc để được hưởng một mối lợi nào đó nhờ việc suy tôn này, tương tự như khi người ta huy động ra đứng đường, phất cờ đón rước một ông lớn đi ngang qua. Tôi chỉ nghe người khác tung hô, người khác vạn tuế, và tôi hùa theo… chỉ có thế, hoàn toàn hời hợt bên ngoài.
“Có phải ông tự ý nói?” Đức Giê-su đã từng hỏi Phi-la-tô như vậy, và ông lớn này ấp úng. Nếu Người cũng lập lại câu hỏi ấy hôm nay thì tôi sẽ trả lời sao đây? – Dạ, con nghe Giáo hội dạy con thế, mọi người khác đều nói như thế! Trả lời như thế liệu có ổn không?
Đã rất nhiều lần chúng ta được nghe các cha công bố trên tòa giảng: ‘Chúa Giê-su là Vua Tình Yêu!’. Ôi danh hiệu thật cao quí! Nhưng ngay cả tôi, một linh mục, cũng có thể hô hào như thể một cán bộ hô khẩu hiệu, còn có một kinh nghiệm thiết thân về điều này thì chưa chắc tôi đã thật sự được nếm cảm trong cuộc sống mình. Quả thực đã lần nào trong cuộc sống, từ thâm sâu cõi lòng, tôi từng nghiệm thấy rằng Đức Giê-su yêu tôi, yêu tha thiết, yêu hết mình? Gio-an đã cảm nghiệm được và đã tuyên xưng: “Chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta” (1 Ga 3.16). Để có thể tự mình mở miệng tung hô ‘Chúa Giê-su là Vua Tình Yêu’, tôi cần phải có cùng một rung cảm đó. Niềm tin Ki-tô hữu của tôi sẽ chẳng có giá trị gì nếu nó không đưa tôi tới cái nhận thức rất cá nhân và thâm sâu rằng: Chúa yêu thương tôi và hiến mình cho tôi? Toàn bộ việc giữ đạo, nhất là cử hành bí tích Thánh Thể và Cáo Giải chỉ có một mục đích duy nhất là để ‘chính tay mình chạm được vào tình yêu thẳm sâu đó’ (1 Ga 1,1). Chỉ Ki-tô hữu mới có thể là thần dân thực sự của Vua Tình Yêu Giê-su, không như một quyền lợi để loại trừ kẻ khác, nhưng như các chiến sĩ sẵn sàng bảo vệ lẽ sống quí giá nhất của đời mình, sẵn sàng loan truyền lẽ sống tuyệt diệu đó cho nhiều người khác nữa. Điều này tôi không thể thi hành nếu như chính tôi chưa từng bao giờ nếm cảm thấy lòng nhân hậu xót thương Chúa dành cho tôi. Đã từng phạm rất nhiều tội lỗi trong đời ư? Đừng lo! Tôi càng có thể cao giọng tuyên xưng: ‘Đức Giê-su là Vua Tình Yêu!’ sau khi, qua chính các lỗi phạm đó, tôi lại nghiệm ra lòng thương xót tha thứ của Người càng vĩ đại hơn. Và chính lúc đó tôi mới đích thực trở thành thần dân của Người hơn khi nào hết. Phải chăng đó là lý do Người đã chọn giờ phút hiến tế gánh lấy tội trần gian để công bố: “Tôi là Vua”, và thành viên đầu tiên được Người chấp nhận gia nhập Vương Quốc lại chính là tên cướp cùng bị tử hình;? Tên cướp này rất xứng bị án tử vì đã phạm không biết bao nhiêu tội ác, nhưng hắn quá may mắn vì đã chân thành thốt lên: ”Lạy Ngài, xin thương nhớ đến tôi!” Như vậy thât quá hiển nhiên: ai chính mình đã từng nghiệm thấy lòng nhân ái xót thương vô bờ bến của Thiên Chúa, người đó mới đích thị là thành viên của vương quốc tình yêu của Vua Giê-su, và chỉ có họ mới xứng đáng mở miệng tung hô Người.
Đặc biệt hôm nay, tôi không chỉ ‘hòa mình’ với Giáo Hội để tung hô Người ngoài môi miệng, hiểu theo nghĩa cùng người khác tung hô. Nhưng tôi muốn, với trọn buồng phổi và con tim, hét lên rằng “Giê-su Ki-tô là Vua, Tình Yêu”, Vua của cõi lòng tôi. Thực tình tôi muốn, ngay từ bây giờ trên cõi đời này, đã là thành viên của Vương Quốc tình yêu, để giờ chết đến tôi sẽ vĩnh viễn gia nhập Vương Quốc đó.
Lạy Chúa Giê-su - Vua Tình Yêu, chớ gì vào ngày sau hết, khi tới trước Thánh Nhan, có lẽ là với tất cả sự yếu hèn tội lỗi của mình, con vẫn có thể kêu lên tự thâm sâu cõi lòng mình: Ngài là Giê-su, Vua Tình Yêu. Và con sẽ được nghe Chúa phán: “Chính con tuyên xưng rằng ‘Ta là Vua Tình Yêu’ chứ không phải chỉ nghe người khác nói!” Con đã làm chứng cho chân lý, đã đứng về phía sự thật lớn lao nhất này… thì con hãy vào Vương Quốc thiên đàng với Ta nội ngày hôm nay!”. Amen.
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

"Nước tôi không thuộc về thế gian này”

Trong những lời đối thoại với ông Philatô mà bài Tuin Mừng hôm nay (Ga 18,33b-37) thuật lại, Đức Giêsu khẳng định một cách rõ ràng vương quyền của Người và nêu ra hai đặc trưng quan trọng của vương quyền đó, khác hẳn với quan niệm mà ông Philatô có thể có về vương quyền và sứ mệnh của các vị vua trên thế gian này.
1. Đức Giêsu nói rõ với ông Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (c.36a). Trước đây, khi tranh luận với người Pharisêu về lời chứng liên quan đến bản thân Người, Đức Giêsu đã từng nói: “Tôi không thuộc về thế gian này” (8,23), trong ngữ cảnh là lập tức ngay sau đó Người khẳng định “Tôi Hằng Hữu” (Êgo êimi) (8,24.30). Cái “thế gian này” được đề cập đến ở đây chính là cái hệ thống bất chính, cái hệ thống đang áp đặt sự thống trị gian ác của nó trên con người, cái hệ thống mà sự gắn kết với nó bị coi là tội lỗi. Đối ngược với cái hệ thống ấy, Đức Giêsu phục vụ con người và từ khước việc người ta suy tôn mình (x. 6,15). Trong tư cách là vua của “Nước không thuộc về thế gian này”, Đức Giêsu sẽ là Con Người bị giương cao lên, Đấng hiến ban mạng sống để cứu độ nhân loại.

2. Đức Giêsu xác định với ông Philatô: “Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái” (c.36b). Lời này giả thiết cách hiểu rằng một trong những đặc trưng của các ông vua của thế gian này là họ sử dụng sức mạnh để thiết lập và bảo vệ quyền thống trị của họ. Nhưng Đức Giêsu thì không như vậy. Người coi việc sử dụng bạo lực là một thành phần của cái hệ thống bất chính và tội lỗi. Chính ở điểm này mà vương quyền của Đức Giêsu khác hẳn vương quyền của vua chúa thế gian. Người tự nguyện chấp nhận bị nộp vào tay người Do Thái và ngăn cản ông Phêrô dùng sức mạnh chống lại những kẻ đến bắt Người (18,11). Người từ chối sử dụng sức mạnh, chứng tỏ Người không làm vua như những người khác. Người chấp nhận bị nộp cho người Do Thái thay vì huy động lực lượng để thoát khỏi số phận bi tương của một kẻ bị kết án tử hình.

3. Vương quyền của Đức Giêsu không đặt nền hay bắt nguồn từ bất cứ nền tảng pháp lý hay chính trị hay kinh tế hay ý thức hệ nào của cái thế gian này. Người nói rõ: “Thật ra, Nước tôi không thuộc chốn này” (c.36c). Vương quyền của Người có nền tảng hoàn toàn khác. “Không thuộc chốn này” tức là “không thuộc về thế gian này”. Vương quyền của Đức Giêsu thuọc “thượng giới” chứ không phải “hạ giới” (x. 8,23), tức là thuộc cảnh vực của Cha và của Thánh Thần. Đó là vương quyền mang lại sự sống (x. 4,47.49) chứ không phải sự chết.

4. Lời tuyên bố của Đức Giêsu đã khiến ông Philatô ngạc nhiên. Ông không thể hiểu một vị vua mà lại tuyên bố như vậy. Ông không thể quan niệm một vị vua mà lại từ chối sử dụng sức mạnh để bảo vệ uy quyền của mình. Vì thế, ông hỏi thẳng Đức Giêsu: “Vậy ông là vua sao?”. Thực ra, khộng chỉ ông Philatô ngạc nhiên. Mọi người đều phải nạc nhiên khi nghe công bố về vương quyền của Đức Giêsu như Người đã nói ở c.36 trong bài Tin Mừng hôm nay, nếu họ nghe bằng đôi tai của những con người thuộc hạ giới. Thế giới hôm nay, và cả cái phần thuộc về thế giới này trong các thực tại và tập thể Kitô giáo nữa, vẫn không thể hiểu được vương quyền của Đức Giêsu và vẫn phải ngạc nhiên mà chất vấn Người: “Ông là vua sao?”

5. Đức Giêsu trả lời: “Tôi là vua” (c.37a). Hoàn toàn phù hợp với những gì được nói ở câu 36, Đức Giêsu tường minh khẳng định về vương quyền của mình. Rồi lập tức Người nói rõ: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian chính là để làm chứng cho sự thật” (c.37b). Người giải thích sứ mệnh làm vua của Người. Sứ mệnh đó không hệ tại ở sự thống trị hay cai quản, theo kiểu các vị vua của thế gian này. Sứ mệnh làm vua của Đức Giêsu trước hết và trên hết là “để làm chứng cho sự thật”.

“Đã đến thế gian” là kiểu nói đã hai lần được Ga áp dụng cho ánh sáng : 3,19 và 12,46. Đáng chú ý là ở 12,46 Đức Giêsu khẳng định một cách tỏ tường ánh sáng là chính bản thân Người. Đàng khác, sự thật là chính bản thân Đức Giêsu như Người đã nói : “Chính Thầy là sự thật” (14,6). Như thế, sự thật mà Đức Giêsu đã đến để làm chứng được đồng nhất hóa với ánh sáng, tức là ánh rạng ngời của sự sống (“sự sống là sự sáng...” : 1,4).

Về lời chứng của mình, Đức Giêsu đã từng nói : “Chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy” (3,11). “Người làm chứng về những gì Người đã thấy và đã nghe” (3,32). Đó cũng là lời chứng về sự từ khước của Người đối với thế gian vì cách hành xử xấu xa của nó : “Tôi làm chứng rằng các việc thế gian làm thì xấu xa” (7,7). Đó còn là lời chứng về chính bản thân Người trong liên hệ với sứ mạng của Người (8,14).

Trong khía cạnh tích cực, sự thật mà Đức Giêsu - Vua đến để làm chứng, là kinh nghiệm của chính bản thân Người (3,11.32), kinh nghiệm về Thần Khí là tình yêu và là sự sống. Đó là sự thật về tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian : "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”  (3,16). Tình yêu đó được thể hiện nơi con người và hoạt động của Đức Giêsu. Đức Giêsu là sự thật về Thiên Chúa bởi vì Người thể hiện tình yêu của Thiên Chúa, và Người là sự thật về con người xét như là sự thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa về con người. Đó chính là sự thật mà Đức Giêsu – Vua làm chứng.

6. Đức Giêsu làm chứng cho sự thật bằng chính cái chết của Người trên thập giá. Và quả thực, cách nói “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật” (c.37b) cho thấy sứ mệnh của Vua Giêsu được thực hiện trong lịch sử. Vương quyền của Đức Giêsu hoàn toàn khác với vương quyền của cái thế gian xét như là một hệ thống bất chính, nhưng vương quyền đó cũng vẫn phải được thực hiện ngay trong lịch sử nhân loại, và hơn nữa, phải là yếu tố định hướng lịch sử nhân loại. Vì thế, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầu nguyện với Cha cho những kẻ thuộc về Người trằng : “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (17,15-19).

Kết luận: Có hai đặc trưng của Đức Giêsu – Vua được khắc họa trong những lời Đức Giêsu nói với ông Philatô trong bài Tin Mừng hôm nay : (1) sự từ khước sử dụng sức mạnh, (2) sứ mệnh làm chứng cho sự thật. Tôn thờ Đức Giêsu – Vua, chúng ta được mời gọi phải xây dựng cuộc sống và cộng đoàn của mình cho phù hợp với hai đặc trưng quan trọng đó.

Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

ĐỨC KITÔ, VUA NIỀM TIN

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể, tiếp nối qua hành trình rao giảng Tin mừng rồi cuộc Tử nạn, Phục sinh và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.
Phải hiểu tước hiệu Vua Kitô như thế nào ? Việc tuyên xưng Đức Kitô là vua mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống người Kitô hữu ?
1.Vua Trong Lịch Sử
Sau thế giới đại chiến lần thứ I, chế độ Quân chủ (Vua cai trị) không còn nữa. Chỉ còn mấy ông vua bà hoàng “làm kiểng” như ở Thái Lan, Anh Quốc, Nhật Bản...không có thực quyền.
Trong lịch sử loài người, có một số vị vua có tài, giỏi đánh giặc và trị nước, nhưng hầu hết các vị vua đều độc tài độc đoán (vì cha truyền con nối), không có khả năng trị quốc an dân, chỉ biết hưởng thụ ích kỷ, chẳng quan tâm đến bá tánh. Các vị vua bên Tàu còn tự xưng mình là Thiên tử (con Trời) nên làm trời con, bắt ai chết thì người đó phải chết, cho ai sống thì người đó được sống (Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung). Các vua La mã tự xưng mình là Thần, ngang với Thượng đế.
Nhìn chung, các vua trần gian thì tham lam, ích kỷ, dâm ô. Khi đã chiếm được ngai vàng, họ coi thần dân như bầy tôi, giang sơn đất nước là tài sản riêng của họ: “Thần dân của trẫm. Giang sơn của trẫm”. Nghi ngờ kẻ nào có ý phản loạn thì giết ngay tức khắc và còn tru di cả tam tộc cửu tộc nữa.
Nếu muốn đổi triều đại, phải chiến tranh giành giật đẫm máu. Đọc lịch sử Việt Nam, mỗi thay đổi triều vua từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… toàn là máu và nước mắt. Đến đời Nguyễn Ánh tự xưng là Gia Long hoàng đế, làm vua từ năm 1802, cha truyền con nối kéo dài hơn 100 năm. Năm 1945, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị.
2. Vua Trong Kinh Thánh
Vào khoảng thế kỷ thứ 11 trước công nguyên, dân Israel có vua cai trị giống như các dân khác.
Ba vị vua đầu tiên của Israel là Saul, Đavit và Salômôn.
Giavê Thiên Chúa, qua ngôn sứ Samuel đã cảnh cáo dân rằng:
- “Ta hối tiếc vì đã đặt Saul làm vua, nó đã quay lưng lại Ta.” (1S 15, 10).
- “Chính Ta đã xức dầu tấn phong ngươi làm vua Israel . . . Tại sao ngươi dám khinh màng lời Đức Giavê . . . ngươi đã lấy gươm đâm Uria, người xứ Hitit và đoạt lấy vợ nó làm vợ ngươi.” (2S 12, 9).
-Còn Salômôn, vị vua có 700 vợ và 300 hầu thiếp (1V 11, 3). Ông đã bỏ Đức Chúa Giavê để thờ tà thần của các bà vợ. Giavê phán với Salômôn: “Bởi ngươi đã nên thể ấy nơi ngươi . . . Ta sẽ giựt lấy vương quyền của ngươi.” (1V 11, 11).
Trong Tân Ước cũng nhắc đến một ông vua rất tàn ác, đó là Hêrôđê: “Bấy giờ Hêrôđê tức cuồng lên, sai quân giết hết cả trẻ em ở vùng Belem, từ hai tuổi trở xuống. (Mt 12, 6).
3. Đức Giêsu Kitô, Vua Niềm Tin
Giáo Hội suy tôn Đức Giêsu là Vua vũ trụ. Ngài không làm vua theo kiểu vua chúa trần gian. Ngài cũng không làm vua một lãnh vực kinh tế nào. Đức Giêsu là Vua Niềm Tin. Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của sự thật. “Tôi đến để làm chứng cho sự thật”. Sự thật mà Ngài tuyên bố, đó là ý định cứu rỗi của Chúa Cha: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến để cứu độ thế gian.
Đức Giêsu thiết lập một Vương quốc phổ quát và vĩnh cửu bằng niềm tin và tình yêu trong sự thật.
Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: “Chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không?” Đức Giêsu đáp: “Của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”.
Đặc biệt trong phiên toà xét xứ, Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”. Người đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Nước Chúa không thuộc về thế gian. Nước Chúa ở trong các tâm hồn khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, đón nhận sự thật. Sự thật đó là tình yêu cứu độ Đức Giêsu đem đến cho nhân loại.
Vương quốc Đức Giêsu là vương quốc sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Vương quốc đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn vương quốc Đức Giêsu chiếm trọn tấm lòng người. Thế lực của Xêza là quân đội, khí giới, nhà tù. Sức mạnh vương quốc Đức Giêsu là niềm tin, là yêu thương, tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn. Vương quốc của Vua Giêsu vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza. Vương quốc sự thật, niềm tin tồn tại muôn đời.
Trong vương quốc niềm tin, con người tiếp nhận sự sống từ chính nguốn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời. Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất.Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Ngài yêu thương con người. Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài. Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa. Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi người đều là hình ảnh Thiên Chúa.

Khủng hoảng trầm trọng nhất của xã hội hôm nay phải chăng là khủng hoảng về niềm tin và ý nghĩa của cuộc sống?
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhận định: “Chúng ta đang phải đối diện với một cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa, một sự mất ý thức tôn giáo là điều tiêu biểu cho một trong những thách thức lớn nhất đối với Giáo Hội ngày nay” (Phát biểu tại Assisi nhân ngày cầu nguyện cho hòa bình 27-10-2011). Theo Đức Thánh Cha, nguyên nhân sâu xa của những thách thức đối với Giáo Hội ngày nay là khủng hoảng Đức Tin. Hơn bao giờ hết, con người cần có Thiên Chúa; nếu không có Thiên Chúa, trần gian sẽ biến thành hỏa ngục. Có lẽ đây là một trong những lý do chính mà Ngài quyết định mở Năm Đức Tin cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ.
Trong buổi tiếp kiến chung ngày 14-11-2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tiếp tục loạt bài giáo lý về Năm Đức Tin. Thế kỷ trước, chúng ta đã chứng kiến sự lớn mạnh và phát triển của chủ nghĩa tục hóa, nhân danh con người có quyền tự chủ tuyệt đối, coi tục hóa là một giải pháp và sự sáng tạo đối với hiện thực. Ngày nay, đức tin đang phải đối diện với những khó khăn, đó là “ít hiểu biết về đức tin, đức tin bị thử thách và chối từ đức tin”. Chủ nghĩa vô thần ‘thực dụng’ là một hiện tượng nguy hại cho đức tin.
Đức Thánh Cha mô tả về ba con đường nhận biết Thiên Chúa: thế giới, con người và đức tin.
- ‘thế giới’: liên quan đến việc “giúp con người ngày nay phục hồi khả năng chiêm ngưỡng vẻ đẹp và cấu trúc của công trình sáng thế. Thế giới này không phải là một khối hỗn mang không có hình dạng, nhưng càng tìm hiểu, càng khám phá cơ chế lý thú của nó, càng ngắm kỹ một mẫu hình, chúng ta càng thấy đó là cả một trí tuệ sáng tạo”.
- ‘con người’. Thánh Augustinô từng nói: “Chân lý cư ngụ trong trái tim con người”. Theo ĐTC, “đây là một khía cạnh khác, ngày nay trong một thế giới ồn ào, làm chúng ta bị phân tâm, chúng ta có nguy cơ đánh mất khả năng dừng lại và nhìn sâu vào nội tâm mình”.
- ‘đức tin’: đây không chỉ đơn giản là một “hệ thống những giá trị, những lựa chọn và hành động”, nhưng “là sự gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng đang nói và hành động trong lịch sử, Đấng biến đổi cuộc sống hằng ngày của chúng ta, biến đổi suy nghĩ, các giá trị, những lựa chọn và hành động của chúng ta”. Ngài kết luận: “Đức tin không phải ảo tưởng, là trốn chạy cuộc sống, là nơi tạm trú đủ tiện nghi, là cảm xúc; nhưng là sự dấn thân vào mọi khía cạnh của cuộc sống và loan báo Tin Mừng, Tin Vui đem lại giải thoát mọi điều thuộc về con người”.(Theo Alessandro Speciale, Vatican Insider, 14-11-2012; WHĐ).
Con người sinh ra trên cõi đời này để làm gì và để đi về đâu?. Đó là câu hỏi lớn mà ngàn đời con người không ngừng đặt ra cho mình khi đứng trước những mâu thuẫn bất trắc của cuộc sống. Nghĩ cho cùng, mỗi người chỉ tìm thấy giải đáp cho câu hỏi ấy nhờ ánh sáng đức tin.

Đức tin là một sự sống. Khi thể hiện niềm tin bằng cuộc sống, tín hữu mới có thể an lòng là thần dân trong Vương quốc của Đức Kitô.Ánh sáng đức tin hướng dẫn nhân loại đến yêu thương và phục vụ. Khi con người biết sống cho người khác họ sẽ tìm thấy chính mình, thấy lý tưởng, thấy ý nghĩa cuộc sống. Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong vương quốc Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.
Ở Vũng Tàu, có tượng Chúa Kitô Vua thật lớn đứng trên núi cao nhìn về biển đông, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân ra khơi, nhìn lên tượng Chúa để xác định phương hướng. Khi gặp sóng gió, họ cũng hướng về tượng Chúa để cầu nguyện xin ơn.
Mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Vua niềm tin, chúng ta trọn một niềm xác tín, Chúa Kitô là trung tâm lịch sử cứu độ là chuẩn đích cho chúng ta định hướng với tin yêu và hy vọng. Hãy để cho Chúa chiếm trọn tất cả con người mình, tư tưởng, lời nói, việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của sự sống và sự thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện, công lý, tình yêu và hoà bình (Kinh Tiền Tụng).
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

GÓP PHẦN KIẾN TẠO “TRỜI MỚI ĐẤT MỚI”

HIỆP SỐNG TIN MỪNG CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN B Lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua Vũ Trụ Đn 7,13-14 ; Kh 1,5-8 ; Ga 18,33b-37


I.HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 18,33-37
(33) Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?” (34) Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về Tôi?”. (35) Ông Phi-la-tô trả lời: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?” (36) Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này”. (37) Ông Phi-la-tô liền hỏi: “Vậy ông là Vua sao?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.
2. Ý CHÍNH: Trước tòa án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã cho ông biết về Vương Quốc của Người. Vương Quốc ấy thiêng liêng và không thuộc về thế gian, không có quân đội và không biên giới. Đức Giê-su cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là vị Vua Thiên Sai, đến để làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai sẵn sàng tin theo sự thật của Người.
3. CHÚ THÍCH:
- C 33-34: + Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su: Đức Giê-su đã bị dân quân Đền thờ bắt tại vườn Cây Dầu vào đêm thứ Năm sau bữa tiệc ly Vượt Qua mừng trước. Sau khi bị bắt Đức Giê-su đã bị tòa án tôn giáo xét xử và bị thương tế Cai-pha kết án tử hình(x Ga 18,19-24). Tuy nhiên vì các đầu mục Do thái đã bị người Rôma truất quyền kết án tử hình (x. Ga 18,31), nên sáng hôm sau, họ đã giải Đức Giê-su đến dinh quan Phi-la-tô để yêu cầu ông này kết án tử hình cho Đức Giê-su. Họ đứng ngòai sân chứ không vào trong nhà để tránh bị ô uế theo Luật, mà ai vi phạm sẽ không được ăn mừng lễ Vượt Qua (x Ga 18,28b). Quan Phi-la-tô đã phải ra ngòai hành lang để gặp họ. Sau khi biết rõ ý họ muốn, Phi-la-tô đã vào trong phòng thẩm vấn Đức Giê-su + “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”: Người Do thái đã tố cáo gian cho Đức Giê-su tội phạm chính trị là xưng mình là Vua dân Do thái, để yêu cầu quan Phi-la-tô quy tội phản lọan và kết án tử hình cho Người. Do đó Phi-la-tô  tra vấn Người về việc này. + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”: Đức Giê-su không trực tiếp trả lời câu hỏi của Phi-la-tô, nhưng Người gợi ý để ông tự xét lời tố cáo đó có cơ sở không hay chỉ là sự vu cáo bịa đặt?
- C 35: + Tôi là người Do thái sao?: Phi-la-tô cho biết ông không quan tâm đến những vấn đề tôn giáo, vì ông không phải là người Do thái! + Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?: Phi-la-tô cho biết dân chúng và các đầu mục Do thái đã tố cáo như thế để yêu cầu ông xét xử. Ông hỏi Đức Giê-su đã làm gì chống lại họ để đến nỗi bị họ tố cáo như vậy?
- C 36: + “Nước tôi không thuộc về thế gian này”: Đức Giê-su không chối điều họ tố cáo, nhưng Người xác định mình không phải là ông vua trần tục. Vì Nước của Người không thuộc về thế gian này. + “nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái”: Lời này cho thấy sự khác biệt giữa vương quốc thế gian và Vương Quốc của Thiên Chúa. Khác về tinh thần cai trị (x. Mt 20,24-28), về hiến pháp (x. Mt 5,1-12), về điều kiện gia nhập (x. Mt 7,21), về sự vững bền (x. Mt 25,46), về tương quan giữa vua với dân (x Ga 13,12-15).
- C 37: + “Vậy ông là vua ư?”: Đặt câu hỏi này, Phi-la-tô chỉ tò mò muốn biết thêm về chức vị vua thiêng liêng trong Nước Trời của Đức Giê-su, chứ ông không nghĩ Người là vua thế tục. Phi-la-tô biết rõ Đức Giê-su không làm loạn, vì Người không có quân đội để tự vệ khi bị người Do thái vây bắt. + “Chính ngài nói: tôi là vua”: Đức Giê-su xác nhận Người là Vua. nhưng là Vua Tình Yêu, Vua Mục Tử: Người hiểu biết từng con chiên (x. Ga 10,14), nuôi dưỡng đàn chiên (x. Ga 10,3), đi tìm chiên lạc (x. Ga 10,16), bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đàn chiên (x. Ga 10,11.15). Tóm lại, Người đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”: Sứ mệnh của Đức Giê-su là đến để làm chứng cho sự thật. ** làm chứng theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tử đạo. Đức Giê-su làm chứng cho sự thật bằng việc đổ máu ra vì yêu nhân loại đến cùng ** Sự thật không có nghĩa là không gian dối, nhưng chính là Tin Mừng Nước Trời mà Người loan báo. Sự Thật ấy cũng là mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, đã được biểu lộ qua cuộc đời, lời rao giảng và nhất là trong biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su. + Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”: Đức Giê-su đến không những để cứu độ dân Do thái là dân được Thiên Chúa ưu tuyển, mà Người còn đến cứu mọi dân nước tin vào Tin Mừng của Người và gia nhập vào Nước Trời là Hội Thánh hôm nay và là Thiên Đàng mai sau.
4. CÂU HỎI: 1)Tại sao các đầu mục Do Thái lại phải giải Đức Giê-su đến tòa án của quan Phi-la-tô? 2)Tại sao người Do thái không vào trong nhà làm cho quan Phi-la-tô phải đi ra ngòai hành lang để tiếp họ đứng dưới sân? 3)Đức Giê-su cho Phi-la-tô biết Nước Trời do Người thiết lập có những đặc tính nào khác với nước thế gian? 4)Khi hỏi Đức Giê-su: “Ông là Vua ư?”, Phi-la-tô có tin những lời các đầu mục Do thái tố cáo Đức Giê-su không? 5)Đức Giê-su nhận mình là Vua nhưng chức vị này có những phẩm chất nào? 6)Đức Giê-su đến để “Làm chứng cho Sự Thật” nào và làm chứng bằng cách nào? 7)Ngòai dân Do thái ra, Đức Giê-su còn đến cứu độ những ai?

II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Tôi là Vua” (Ga 18,37):
2. CÂU CHUYỆN:
Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT Đệ Tam (CANUT III). Là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông ta lúc nào cũng có những nịnh thần nói lời ca tụng, tâng bốc. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh hót nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa”.-“Thánh thượng có toàn quyền cả trong đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”
Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm đang có các cơn sóng vỗ rì rào, nhà vua liền tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và trên biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!”. Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, mà nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo quan chức triều đình! Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quì gối trước tượng Thánh giá Chúa Giê-su, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giê-su. Chỉ có Chúa mới là “Vua trên hết các vua”, là “Chúa trên hết các chúa”. Chỉ có Chúa mới “có quyền trên cả đất liền cũng như biển khơi” Con xin ngợi khen Chúa. AL-LÊ-LU-IA!”.
3. SUY NIỆM:
1) Hôm nay là ngày Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ. Giáo Hội long trọng mừng kính lễ Chúa Giê-su Ki-tô là Vua Vũ Trụ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã khẳng định trước mặt quan Phi-la-tô: “Phải, tôi là Vua”.
2) Đức Giê-su là Vua, vì Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Đấng đã dùng Lời quyền năng sáng tạo nên vũ trụ vạn vật như sau: “Phải có ánh sáng! Liền có ánh sáng” (x. St 1,3). Đức Giê-su thực là Vua, vì Người đã chiến thắng ma quỷ, tội lỗi và sự chết bằng Lời quyền năng như sau: “Câm đi và hãy xuất khỏi người này!” (Mc 1,25-27) ; “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5) ; “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).
3) Người từng tuyên bố: Nước Người không thuộc về trần gian này. Vương quyền Người không dựa trên sức mạnh của vũ khí quân đội mà dựa trên tình yêu. Bao nhiêu vua chúa, bao nhiêu triều đại xưa đã từng xuất hiện một thời trên trần thế, thì nay đều đã bị diệt vong. Chỉ duy Vương Quyền của Đức Giê-su vẫn luôn tồn tại và hiển trị trong các tâm hồn.
4) Chúa Ki-tô chiến thắng! Chúa Ki-tô trị vì! Chúa Ki-tô hiển trị muôn đời! (“Christus vincit. Christus regnat. Christus... imperat”): Ngày nay các tín hữu chúng ta tôn kính Vua Giê-su không phải chỉ bằng nghi lễ trong nhà thờ, bằng việc ca hát tung hô Người … Nhưng quan trọng hơn: Chúng ta phải tích cực góp phần xây dựng Nước Trời yêu thương an bình hạnh phúc ngay từ trong gia đình đến khu xóm, chợ búa, trường học, xí nghiệp, sở làm và mọi lúc mọi nơi… Chúng ta phải làm thế nào để mọi người nhận biết tôn thờ một Thiên Chúa là Cha, sống chan hòa yêu thương nhau như anh em trong đại gia đình của Thiên Chúa, dưới quyền cai trị của Đức Giê-su Vua vũ trụ, như Người đã phán trước khi lên trời: “Thầy đã được trao tòan quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18b-20)..
4. THẢO LUẬN: 1)Mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để Chúa Giê-su làm Vua gia đình mình? 2)Chúng ta cần làm gì để loan báo Tin Mừng Nước Trời cho anh em lương dân, hầu mở rộng Vương Quyền của Vua Giê-su đến tận cùng thế giới?
5. NGUYỆN CẦU
- LẠY CHÚA GIÊ-SU: Ngày nay các bạn trẻ thường hay chọn cho mình một thần tượng để tôn sùng và bắt chước: Người thì mê vua bóng đá Pê-lê; Có người lại chạy theo vua nhạc Rốc Mai-côn Giắc-sân (michael jackson). Có những cô gái cố trang điểm, ăn mặc giống như cô ca sĩ này, hay người mẫu nọ... còn chúng con là môn đệ của Chúa, chúng con có Chúa là vị thần tượng ưu việt duy nhất. Ước chi chúng con nói được như thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21)- Từ nay “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).
- Lạy Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật. Xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói thật để mưu ích cho tha nhân, (nhưng không phải mọi sự thật đều nên nói ra). Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lừa đảo. Trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả của các người Pha-ri-sêu và kinh sư đã bị Chúa nặng lời quở trách (x. Mt 23,13-36). Trong quan hệ làm ăn buôn bán, xin giúp chúng con biết buôn ngay bán thật, không nói rước nói thách, không làm hàng gian hàng giả, không cư xử bất công lường gạt người nhẹ dạ dễ tin. Xin Chúa giúp chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là con dân của Vua Giê-su “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH