Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

20 tháng 10, 2012

Chúa Nhật XXIX Thường Niên B

ĐƯỜNG DẪN TỚI VINH QUANG LỜI CHÚA: Mc 10, 35-45

1. Cảnh này xảy ra ở đâu? Chủ đề là gì?
Cảnh này xảy ra trên đường dẫn tới Giêrusalem: là thị xã vương triều Đavit, là thủ đô của Palestine, nơi mà Con Người sẽ sống lại vinh hiển sau 3 ngày, ngày như Đức Giêsu vừa nói tiên tri (c. 34). Có lẽ cảnh khải hoàn như vậy đã gợi ý cho mấy người con ông Giêbêđê đề xuất lời xin ngây ngô của họ. Đoạn Tin Mừng này nói về chức quyền nhưng dưới hai phương diện khác nhau, chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần phân tích bản văn.
2. Phân đoạn: Bài này chia làm hai phần
  • cc. 35-40 : Đức Giêsu đối thoại với hai con Giêbêđê
  • cc. 35-37 : Lời thỉnh cầu
  • cc. 38-40 : Câu trả lời
  • cc. 41-45 : Đức Giêsu giáo huấn Nhóm Mười Hai : có chức quyền là để phục vụ chứ không phải để cai trị
3. Con đường tới vinh quang (cc. 35-40)
a. Giacôbê và Gioan xin Chúa Giêsu điều gì ?
Xin cho chúng tôi được ngồi một người bên hữu, một người bên tả trong vinh quang của Thầy. Phải hiểu « vinh quang » như trong bản văn của Mt 20,21, là vương quốc sắp được thiết lập tại Giêrusalem theo kỳ vọng của các môn đồ. Hai anh em ông muốn Chúa Giêsu dành cho họ những vinh dự lớn nhất và uy quyền tối cao trong quyền tối thượng theo kiểu Đavit. Trong lời tiên báo của Chúa Giêsu về tương lai của Chúa ở các câu 33-34 có hai yếu tố là khổ nạn và phục sinh, thế mà hai anh em thì giữ lại một vế. Điều đáng chú ý là Đức Giêsu đã nói về khổ nạn khá dài và nói đến lần này là lần thứ ba, còn nói về Phục Sinh thì rất vắn thế mà hai anh em lại thích vắn hơn dài.
Qua lời yêu cầu của hai ông Giacôbê và Gioan, chúng ta thấy rõ ý hướng chưa trong suốt của họ khi theo Chúa Giêsu. Chính ý hướng này là cái cản trở, khiến họ không nghe lời loan báo khổ nạn của Ngài, mặc dầu đó là lời loan báo thứ ba.
Bên cạnh đó, tự bản chất, con người muốn làm lớn, muốn ở trên kẻ khác, muốn thống trị, thích tìm ngồi chỗ nhất. Xã hội chúng ta lại khuyến khích và khơi dậy ước muốn đó, một ước muốn mà mọi con người bình thường đều có. Xã hội sùng bái những người đứng đầu, chiều chuộng những kẻ giàu nhất, mạnh nhất, thông minh nhất, đẹp nhất, táo bạo nhất. Chỗ nhất! Đôi khi chẳng có gì mà người ta không làm để đạt tới đó. Không phải ai cũng đều thành công, nhưng ai cũng ao ước, ai cũng mơ ước được như vậy.
b. Từ ngữ “chén” và “phép rửa” Chúa Giêsu nói ở đây là gì?
  • Trong Cựu ước, “chén” đôi khi cũng dùng để chỉ phúc thái ơn lộc, nhưng qua thời các ngôn sứ, “chén” thường được dùng để chỉ đau khổ, bất hạnh. Trong vườn cây dầu, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: xin Chúa Cha cất chén đau khổ, nhưng đừng theo ý Con, một theo ý Cha mà thôi.
  • “phép rửa” ở đây là cái chết đau thương của Ngài, đây là phép rửa bằng máu, cũng có nghĩa là đau khổ. Nói chung, điều kiện mà Chúa đòi hỏi hai anh em Giacôbê và Gioan là có sẵn sàng chịu đau khổ với Ngài không? Lúc ấy hai ông thưa được dù chưa hiểu, nhưng sự thật sau này hai ông đã uống chén và chịu phép rửa như đã cam kết với Chúa.
c. Chúa Giêsu dạy dỗ họ như thế nào ?
Phân tích các lời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài không bác bỏ lời xin của hai ông như vô nghĩa, vì thực ra đã có lần Ngài hứa với họ khi con người ngự lên ngai vinh hiển Ngài, cả các con nữa cũng sẽ ngồi trên 12 ngai, mà xét xử 12 chi tộc Israel (Mt 19, 28). Khi Chúa Giêsu nói tiếng « không » với hai ông, Ngài không nghĩ đến tham vọng của họ cho bằng đến điều họ bỏ qua : Con đường dẫn tới vinh quang tức là đau khổ, là chén Ngài uống và thanh tẩy Ngài chịu.
Ngài nói trước về cái chết của hai ông và cho biết việc cắt đặt tôn ti không thuộc về Ngài, đó là cách Ngài dạy các ông hãy bước theo Ngài trong phó thác vào bàn tay nhân lành của Cha, đừng theo Ngài với thái độ đổi chác mua bán.
4. Có chức quyền là để phục vụ chứ không phải để cai trị (41-45)
Chúa Giêsu không trách hai môn đệ của Ngài, vì muốn được gần Ngài trong vinh quang Thiên quốc. Ngài không từ chối những khát vọng và nỗ lực của họ, vì Ngài không muốn có những môn đệ mệt nhọc, thiếu năng lực; nhưng Ngài chỉ cho thấy mục tiêu đúng đắn của các khát vọng, là mục tiêu duy nhất phù hợp với sự hiệp thông đời sống với Ngài: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (cc. 43-44). Đây là nẻo đường duy nhất đưa tới uy tín và sự cao cả thật sự. Phục vụ là tiêu chuẩn duy nhất giúp đánh giá sự cao cả và thành công đích thực. Ai là người tôi tớ của mọi người, tức là phục vụ nhằm mưu ích cho kẻ khác, với trọn tâm hồn, với tất cả sức lực, thì thật sự là người đứng đầu mọi người. “Mọi người” đây là tất cả những ai mà họ có thể phục vụ, tất cả những ai lệ thuộc sự giúp đỡ của họ. Người môn đệ Đức Giêsu không được chọn người để phục vụ theo các mối thiện cảm của mình. Cuối cùng, chính Đức Giêsu khẳng định bổn phận phục vụ dựa trên nền tảng là lối cư xử của Người (c. 45).
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn giáo huấn các môn đệ rằng : Những kẻ cao trọng trước mặt Thiên Chúa không phải là những kẻ để cho người ta phục vụ mình, nhưng là những kẻ phục vụ; những kẻ xứng đáng chỗ tốt trong Nước Trời, không phải là những kẻ chỉ biết ước mơ xin xỏ, nhưng là những kẻ bắt chước Chúa Kitô, uống chén đắng mà Ngài đã uống, làm đầy tớ như Ngài, chịu thanh tẩy bằng đau khổ như Ngài.
Suy thêm
  1. Chúng ta đã thực sự chấp nhận giáo huấn của Chúa Giêsu chưa ?
  2. Chức quyền có đối lập với phục vụ không ?
  3. Gương của Giacôbê và Gioan cùng lời dạy của Đức Giêsu có nói gì với bản thân tôi không ?
Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

CHÚA NHẬT XXIX TN B: TRUYỀN GIÁO BẰNG VIỆC HIẾN THÂN PHỤC VỤ

Thưa quý OBACE, có lẽ ngày nay, hai chữ phục vụ được sử dụng ở rất nhiều lãnh vực, nhiều trường hợp, song nó cũng là từ ngữ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, kể cả nghĩa tốt lẫn nghĩa bóng.
 Từ ý nghĩa ban đầu, sự phục vụ nó nhắm đến một hành động được thực hiện vì lợi ích của người khác, mà người thực hiện không màng chi đến sư biết ơn đền đáp của người mà mình đã phục vụ, ví dụ ngày xưa, bác sĩ y tá phục vụ bênh nhân chỉ với mục đích duy nhất là cứu người đem lại an vui và hạnh phúc cho người bệnh. Bài ca Phục vụ đã đưa ra một định nghĩa rất đẹp về chữ phục vụ: Phục vụ là cho không, phục vụ là quên mình, phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ân nghĩa không chờ… Tuy nhiên chữ phục vụ ngày nay đã bị bôi bẩn, biến dạng bởi những thực tế đang xảy ra trong xã hội: người ta gọi là phục vụ, nhưng vẫn phải có đi có lại, phải biết điều, phải có phong bì; ở cấp thông thường, người cho mình là người phục vụ, thì vẫn đòi hỏi quyền lợi và sự đáp đền tương xứng, ở cấp cao, cấp lãnh đạo thì hai chữ phục vụ còn ẩn chứa ở đàng sau bao nhiêu mối lợi về quyền lực, địa vị, tiền bạc…
Hai con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan cũng đã hiểu hai chữ phục vụ một cách méo mó như thế, nên họ mới ngập ngừng đến xin Chúa Giêsu: Chúng con muốn xin Thày điều này – Xin cho chúng con một người ngồi bên phải và một người ngồi bên trái Thày khi Thày được vinh quang. Điều này có nghĩa là, hai ông thấy mình đã đi theo Chúa mấy năm, đã có công trạng nhiều, cũng đã cùng Thày phục vụ, thì giờ đây họ cũng phải được lại một phần vinh quang nào đó chứ?
Chúa Giêsu đến trần gian là để phục vụ nhân loại, và vinh quang của Ngài không phải là thứ vinh quang trần thế, quyền lực của Ngài không phải là quyền lực của vua chúa trần gian, trái lại Ngài phục vụ nhân loại bằng con đường hiến thân trên thập giá, phục vụ cho đến tận cùng, đến trao ban cả mạng sống. Chính vì thế mà Chúa đã muốn đưa hai enh em ông Giacôbê và Gioan trở về với đúng nghĩa của từ phục vụ: Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi Chén Thày sắp uống và chịu được phép rửa Thày sắp chịu không? Tức là Chúa muốn các ông phải trở về với ý nghĩa cao đẹp của sự phục vụ, và bước vào con đường phục vụ như Chúa. Khi nói đến Chén Thày sắp uống và phép rửa Thày sắp chịu, Chúa Giêsu muốn nói đến cuộc khổ nạn thập giá là đỉnh cao của sư phục vụ mà các môn đệ của Chúa nếu muốn được thông phần vinh quang với Chúa thì cũng phải dám bước vào con đường thập giá, con đường phục vụ này.
Hai môn đệ này chắc chắn chưa hình dung hết Chén Thày sắp uống và phép rửa Thày sắp chịu là gì, song các ông vẫn thưa: Thưa được! Chúa Giêsu đã  đồng ý để cho các ông cùng uống chén và cùng chịu phép rừa với Chúa, tức là cùng bước theo con đường hiến thân phục vụ của Chúa nhưng còn về vinh quang và phần thưởng thì do Thiên Chúa sẽ ban tặng. Nhân dịp này Chúa Giêsu mới nói cho các ông về bài học phục vụ: Vua chúa các dân thì lấy quyền để cai trị dân, còn anh em thì không được như vậy, ai muốn làm lớn thì phải là người phục vụ anh em. Tức là Chúa muốn các môn đệ của Chúa không thể sống theo như kiểu của thế gian, ai làm lớn thì là người thống trị và bắt buộc người khác phục tùng, hầu hạ mình, người đời tranh giành làm quan làm tướng là để kiếm được nhiều bổng lộc, còn người môn đệ của Chúa thì ngược lại, không tìm kiếm bổng lộc ở trần gian, không chờ đợi người khác mang ơn và đền trả, mà phải biết phục vụ một cách vô vị lợi, phục vụ vô điều kiện.
Chúa Giêsu cũng đưa ra cho các tông đồ tấm gương của chính Ngài: Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Đúng như thế, Chúa Giêsu là Ngôi Lời con Thiên Chúa với đầy đủ quyền uy và vinh quang của một vị Thiên Chúa, vậy mà khi đến trần gian Ngài đã không đòi hỏi một địa vị một chức bậc nào, trái lại Ngài đã sống cùng với mọi người để chia sẻ. để nâng đỡ cho mọi người. Sứ mạng của Ngài đến trần gian là để phục vụ cho Tin Mừng và phục vụ con người, Đức Giêsu đã tận tâm để đem Tin Mừng cho mọi người mọi nơi, Ngài đã cúi xuống để phục vụ từ người nghèo đói rách rưới đến những người đau yếu tật nguyền, từ những người bị bỏ rơi đến những người quý tộc, và cuối cùng, vì muốn phục vụ cho đến tận cùng thánh ý của Thiên Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận hy sinh cả mạng sống mình, để làm giá cứu chuộc cho muôn vật muôn loài, và ban tặng cả con người và sức sống của mình cho nhân loại. Đó mới là sự phục vụ đích thật.
Tiên tri Isaia đã nhìn thấy trước nơi Đức Giêsu là hình ảnh của một người tôi tớ tận tụy phục vụ cho Thiên Chúa, mà đã là người phục vụ thì luôn sẵn sàng làm theo ý muốn của Đấng mà Ngài phục vụ, người tôi trung này đã chấp nhận mang lấy đau khổ thiệt thòi vào bản thân mình, đem sự công chính thánh thiện của mình mà thánh hóa mọi người.
Còn tác giả Thư Do Thái thì lại nhìn thấy nơi Đức Giêsu như là một Thày Thượng Tế phục vụ trong đền thờ của Thiên Chúa, nhưng không giống như các thượng tế Do Thái, mà Đức Giêsu là một vị Thượng tế siêu việt phục vụ trong đền thờ Thiên quốc, đồng thời Ngài cũng lại là một người trong nhân loại chúng ta, vì thế, mỗi người hãy tin tưởng đến với Ngài để đón nhận được sự yêu thương và bênh vực của Ngài trước tòa thiên Chúa.
Thưa quý OBACE, sống trong một xã hội thực dụng, người ta luôn đặt ra vấn đề có đi có lại, nhờ nhau điều gì cũng phải biết đáp lễ, lại mặt lại quả, làm gì thì cũng mong được lợi về cho bản thân, thì người Kitô hữu chúng ta không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những cách sống như thế. Cách sống này nó làm cho người ta trở nên ích kỷ hơn, hẹp hòi với nhau hơn, và nó cũng tạo nên một lối suy nghĩ rằng: trên đời này chẳng ai cho không ai cái gì…từ đó có thể nó cũng làm cho chính chúng ta, nhìn hành động phục vụ của anh em dưới cái nhìn này, khiến cho nhiều người ngập ngừng và không dám phục vụ, không dám xả thân vì anh em đồng loại. Bên cạnh những tấm gương xả thân phục vụ cứu người, chẳng hạn như những anh lính cứu hỏa trong vụ 11/9 chấp nhận hy sinh cả mạng sống, thì cũng còn rất nhiều người mang danh là những con người phục vụ nhân dân, phục vụ người nghèo, nhưng thực ra lại là những người đục khoét của dân và làm khó cho người nghèo.
Trong tâm tình của ngày Khánh Nhật Truyền Giáo, là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta cũng phải dám uống cùng một chén với Thày và chịu củng một phép rửa với Thày, tức là chấp nhận bước vào con đường khổ giá và hy sinh vì hạnh phục của nhiều người, dám xả thân phục vụ mà không tính toán thiệt hơn, dám quên mình vì niềm vui và hạnh phúc của anh chị em, khi chúng ta dám phục vụ mọi người một cách quảng đại như thế, là chúng ta đang dem Tin Mừng của Chúa đến cho anh em, là giúp anh em gặp được Đức Kitô qua sự tận tâm phục vụ của chúng ta.
 Sự phục vụ cao cả trong cuộc sống thường ngày mà chúng ta có thể thấy đó là sư phục vụ và hiến thân mình của cha mẹ dành cho con cái. Chúng ta ghi nhận xung quanh ta có biết bao nhiêu người cha người mẹ tần tảo sớm hôm để lo cho con cái nên người, có những cha mẹ già hầu như không có một giây phút nghỉ ngơi, kể cả khi tuổi gì sức yếu, ngày ngày vẫn cần mẫn như con ong cái kiến để nuôi sống gia đình và cho con cái có cơ hội học hành bằng với anh em. Những sự hy sinh âm thầm ây của các bậc cha mẹ, bản thân các ngài chẳng kể là gì, và cũng chẳng bao giớ các ngài chờ đợi một món lợi nào từ nơi con cái, có chăng là chờ đợi để thấy con mình thành công và hạnh phúc thì các ngài đã mãn nguyện rồi.
Với nhiều người trẻ hôm nay, dường như họ đã dánh mất lý tưởng phục vụ, mà chỉ còn quan tâm đến việc kiếm tiền và làm sao để cho có nhiều tiền, và tiền bạc cũng như địa vị xã hội đang là một cám dỗ khủng khiếp mà ít người cưỡng lại được… Tuy nhiên, là những người trẻ Công Giáo, chúng ta phải dám là những con người lội ngược dòng, dám sống quảng đại giữa một xã hẹp hòi, dám sống vì người khác trong một xã hội ích kỷ, dám xắn tay lên để phục vụ thay vì ngồi đó để chờ đợi người khác phục vụ, dám nghĩ đến nhu cầu lợi ich của người khác hơn là chỉ nghĩ đến nhu cầu lợi ích của bản thân, dám ra khỏi lợi ích bản thân để bước đến với anh em… Điều mà chúng ta chờ đợi không phải là những lợi lộc của trần gian này,mà chúng ta chờ đợi Thiên Chúa sẽ trả lại cho chúng ta vinh quang và hạnh phúc nước trời.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta thấm nhuần bài học yêu thương và phục vụ của Chúa , và noi gương Đức Maria, để chúng ta cũng dám sống và phục vụ như Chúa muốn mỗi chúng ta. Amen
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

ƯU TIÊN BỐN HẠNG NGƯỜI Thư mục vụ Năm Đức Tin của HĐGMVN viết: Cùng một nhịp bước với Giáo Hội toàn cầu, Năm Đức Tin phải là cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần Dân Chúa tại Việt Nam củng cố đức tin của mình, hoán cải và đổi mới đời sống, trở về với Chúa là Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới. Khi chúng ta tái khám phá niềm vui đức tin, chúng ta sẽ hăng say dấn thân cho công cuộc Tân Phúc Âm hoá loan báo Tin Mừng cho 93% người Việt Nam chưa biết Chúa, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập mọi lĩnh vực đời sống, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh theo những giá trị Tin Mừng và truyền thống văn hoá của dân tộc. (Số 5).

Năm Đức Tin giúp cho Giáo Hội trở về cội nguồn của mình là chính Chúa Kitô và Tin Mừng của Chúa. Nhờ đó có thể canh tân đời sống và cách làm việc, nhằm thể hiện tốt đẹp hơn Sứ vụ Loan báo Tin Mừng.
Truyền giáo là chia sẻ cuộc sống, một cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, và yêu thương đến cùng (x. Ga 13,11), yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu (x. Ga 15,13). Truyền giáo đồng nghĩa với làm chứng cho Chúa Kitô (x. Lc 24, 47, 48, Cv 1,8) bằng đời sống theo gương của Người.
1.     Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu
Giáo Hội luôn trong nỗ lực loan báo Tin mừng của Chúa Giêsu cho toàn thể thế giới. Công đồng Vatican II đã phác họa hướng đi mục vụ truyền giáo: “Vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo sợ của con người ngày hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị ruồng bỏ quên lãng, cũng là niềm vui, hy vọng, nỗi buồn sầu lo lắng của môn đệ Chúa Kitô...”( Hiến chế Giáo hội, số 1).
Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.
Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20). Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).
Chúa Giêsu nói với người phụ nữ ngoại giáo Samaria: “Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,21-24).
Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Chúa Giêsu đã nói trước khi hiến tế: “Lạy Cha, giờ đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1).
Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.
Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu.
ĐGH Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Thông điệp ‘Sứ Vụ Đấng Cứu Độ’: “Truyền giáo là trình bày tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Giêsu Kitô.” (số 2)
Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo.(x.Nhật ký truyền giáo, Lm Piô Phúc Hậu).
A. Yêu thương Lương dân
Chúng ta phải yêu thương và kính trọng Lương dân theo gương Chúa Giêsu.
-         Chúa Giêsu về thăm quê hương Nazareth. Đồng hương đang niềm nở đón tiếp Chúa thì bổng dưng đổi thái độ. Họ đã đảo và đòi giết Chúa vì Chúa đề cao người ngoại, coi người ngoại hơn người đạo (Do Thái Giáo).“Vào thời Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa trong nước Itrael, thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà góa thành Sarépta miền Siđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Itrael, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman người xứ Syri thôi” (Lc 4, 25-37).
-         Tại Caphanaum, Chúa đã đề cao một viên sĩ quan người ngoại, đề cao đến mức độ có thể bị hiểu lầm: “Tôi chưa thấy một niềm tin nào như thế trong dân tộc Israel” (Lc 7,9). Tại miền Tia và Xiđon, Chúa đề cao niềm tin người đàn bà xứ Canaan: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật.”(Mt 15,21-28). Chúa Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).Giờ đây Chúa đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin, khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Chúa Giêsu,và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Chúa.
Thật ra ttrong nước Israel có nhiều người có niềm tin lớn hơn ông sĩ quan, người mẹ Canaan ấy nhiều. Bà Êlisabeth, Gioan Tẩy Giả, thánh Giuse và Đức Mẹ đều là người Israel. Chúa cường điệu lời khen để ta thấy Người thương người ngoại đến mức độ nào.
- Dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc 10, 29-37) đề cao người ngoại hơn cả mấy ông trợ tế và tư tế. Đặc biệt là khi Chúa nói với ông kinh sư bậc thầy của Do Thái giáo: “Ông hãy về và làm như thế!”. Làm như thế tức là noi gương một người ngoại.
- Khi Chúa cho 10 người phong cùi được khỏi, chỉ có một người trở lại cám ơn Chúa. Chúa bảo: “Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì 9 người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại đạo này?” (Lc 17,17-18).
1.     Yêu thương người tội lỗi.
Trong lịch sử loài người, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, từ trong đạo ra tới ngoài đời, Chúa Giêsu yêu thương trìu mến người tội lỗi nhất.
Thánh vịnh 100, đòi “quét sạch thành đô, những đứa làm điều ác, không sót một tên”. Luật Do Thái loại trừ người tội lỗi, không cho tín đồ liên hệ với họ.
Còn Chúa Giêsu:
-         Đề cao người phụ nữ tội lỗi hơn ông Simon biệt phái.
-         Dụ ngôn con chiên bị mất (Lc 15,4-7) cho thấy chủ chăn khi tìm được con chiên lạc (người tội lỗi), không mắng, không đánh, mà còn âu yếm vác lên vai đưa về và còn mở tiệc mừng.
-         Dụ ngôn người cha nhân từ (Lc 15,11-32) cho thấy, Chúa yêu người tội lỗi tới mức nào. Chỉ thấy đứa con sám hối và trở về mà người cha quên hết bao tội lỗi của nó. Cha làm tiệc mừng vì con trở về. Cha đã quên con ngỗ nghịch phá tan tài sản với bọn đàng điếm.
-         Yêu người tội lỗi, để cứu họ, Chúa đã phải trả giá rất cao. Khi Chúa vào nhà ông Giakêu, thánh Luca đã ghi lại: “mọi người xầm xì với nhau: ông này lại vào trong nhà người tội lỗi”.
2.     Yêu người bệnh tật
Bệnh tật là một trong bốn nỗi khổ của kiếp người. Nó gắn liền với đời người vốn là hữu hạn.
Chúa Giêsu luôn tỏ ra đặc biệt quan tâm tới những người yếu đau. Nhiều câu chuyện chữa lành tuyệt vời được kể lại:
-“Thiên hạ đem đến cho người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt; và Người đã chữa họ.” (Mt 4, 24).
-“Chúa Giêsu trên núi đi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. Và kìa, một người phong hũi tiến lại…Người giơ tay đụng vào anh và bảo, tôi muốn, anh sạch đi. Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi.” (Mt 8, 1-3)
-“Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa các bệnh hoạn tật nguyền.” (Mt 9, 35)
-“Ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh nhân của họ”. (Mt 14, 14)
-“Có những đám người đông đảo kéo đến cùng Người, đem theo những kẻ què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác nữa. Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành… (Mt 15, 30)
-“Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.” (Mc 1, 34)

-“Chính giờ ấy, Chúa Giêsu chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỷ ám và ban cho nhiều người mù được thấy…” (Lc 7, 21)

Quan niệm của Cựu Ước cho rằng bệnh gắn liền với tội. Bệnh tật như là một sự trừng phạt bởi tội lỗi gây ra. Vì thế, người ta xa lánh bệnh nhân, nhất là bệnh phong cùi. Đó là một bệnh nan y bị mọi người kinh tởm, không chỉ vì sự dơ bẩn “ô uế theo luật Do thái”, hay lây nhiễm, mà còn bị xa lánh như kẻ tội lỗi. Chính các Tông đồ vẫn còn mang cái nhìn ấy khi hỏi Chúa, người mù từ khi mới sinh là do tội của anh hay gia đình anh.(x. Ga 9, 2-3). Chúa đã trả lời không bởi tội, nhưng để làm vinh danh Thiên Chúa.
Chúa yêu người bệnh tật, và cứu họ khỏi nỗi đau thân xác tâm hồn. Thần học Do thái giáo cho rằng bệnh tật là hậu quả của tội. Chúa phản đối điều đó. Cứ mỗi lần Chúa chữa bệnh, Chúa lại gánh lấy nỗi khổ nhân loại.
Chúa đã thông truyền khả năng chữa lành cho các tông đồ : “Rồi Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1). Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa cũng ra lệnh chăm sóc bệnh nhân : “Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch và khử trừ ma quỷ”. (Mt 10, 8).
Sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu gắn liền với sứ vụ chăm sóc bệnh nhân. Chính các tông đồ nối tiếp công việc của Chúa Giêsu, vừa truyền giáo vừa chữa lành.
3.   Yêu người nghèo
Chúa yêu người nghèo và kêu gọi người giàu chia cơm sẻ áo cho người nghèo. Ai giúp người nghèo thì Chúa bảo là đã giúp Chúa. Ai từ chối người nghèo, thì Chúa bảo là từ chối Chúa (Mt 25, 31-46). Người giàu mà chỉ lo ăn xài, chứ không lo chia cơm xẻ áo thì Chúa gọi là đồ ngốc (Lc 12,20).
Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.
B.   Truyền Giáo như Mẹ Maria

Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng (x.Sứ điệp Truyền Giáo 2012).
Truyền giáo là đem Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Mẹ Maria là nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất. Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa và đưa Người vào trong thế gian. Đó là Tin Mừng.
Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.
Người truyền giáo là người được Chúa Thánh Thần tác động và làm trổ sinh hoa trái giống như Mẹ: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1, 35). Hoa trái của Chúa Thánh Thần là “hoan lạc, bình an…”. Hân hoan trong Thánh Thần, từ đó: “Đức Maria lên đường vội vã” thăm Êlisabet (Lc 1,39), gợi lại hình ảnh ngôn sứ Isaia tiên báo: “Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị” (Is 52,7). Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi. Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần. Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.
Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1, 49). Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình nên lời công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.
Để trở thành người loan Tin Mừng, Đức Maria đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 3,51). Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Cầu nguyện là cuộc trao đổi, đối thoại giữa những khó khăn và thử thách. Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.
Đối với Đức Maria, truyền giáo là đem chính Chúa Giêsu cho nhân loại.
Chúa Giêsu là lẽ sống, là hạnh phúc, là niềm vui của cuộc đời mỗi kitô hữu. Chúng ta phải xác tín như Đức Maria: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1, 46). Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui có Chúa Giêsu trong lòng Mẹ. Đức Maria reo ca: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 47). Đức Maria đã cưu mang chính Chúa Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.
Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Đức Maria là công trình tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần.
Người truyền giáo cũng như thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được. Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần?

Giáo Hội không truyền giáo bằng cách áp đặt, cưỡng chế những người khác theo mình. Giáo Hội cũng không mua chuộc bằng tiền của bằng quyền lợi hay bằng những hứa hẹn. Giáo Hội cũng không dụ dỗ người khác theo đạo.
Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mính sống và làm việc.
Truyền giáo là giới thiệu Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống chứng tá yêu thương dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Hy vọng mỗi người chúng ta cũng có thể nói được như người Công Giáo Hàn Quốc với đồng bào lương dân của mình: "Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào, thì anh chị em bắt chước mà sống như thế".
2.     Vài gợi ý thực hành.
Đức Tin là một ân huệ được ban cho chúng ta để chia sẻ cho người khác; là một nén bạc chúng ta nhận được để sinh lời; là ánh sáng không được đem giấu đi, nhưng phải soi sáng cho cả nhà. Đức Tin là ân huệ quan trọng nhất được ban cho cuộc đời chúng ta mà chúng ta không được phép giữ lại cho riêng mình. (Sứ điệp Truyền Giáo 2012).
Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Thư Năm Đức Tin HĐGMVN, số 7).

Thực thi sứ vụ truyền giáo trong Năm Đức Tin bằng cách:
-         Mỗi Giáo xứ khởi động phong trào: mỗi thành viên phải làm sao giúp cho một người khác theo đạo.
-         Mỗi giáo dân nên kết thân với một Lương dân. Mỗi gia đình kết thân với một gia đình bên Lương. Kết thân để cầu nguyện, nâng đỡ nhau.
-         Các hội đoàn đi tìm người tội lỗi và người nghèo trong địa phương của mình. Nên có một danh sách cụ thể. Sau đó sẽ cùng nhau thăm viếng, an ủi và giúp đỡ.

          Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Đau khổ và Đức tin

(Chúa nhật XXIX TN, năm B) Không ai muốn “chạm trán” đau khổ, nghĩa là ai cũng tìm mọi cách và bằng mọi giá để tránh đau khổ, thế nhưng hầu như ngày nào chúng ta cũng phải đối mặt với đau khổ, dù ít hay nhiều, với các dạng và mức độ khác nhau.

Chính Chúa Giêsu đã từng tỏ cho các môn đệ biết rõ rằng “Ngài phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16:21). Một câu ngắn mà có tới 2 từ PHẢI và 1 từ BỊ, cả hai đều ở thể thụ động. Não lòng quá! Đau khổ có hệ lụy gần gũi với nước mắt, loại nước đặc biệt mang vị mặn đặc trưng.

Thế nhưng đau khổ như một phần tất yếu của cuộc sống, như “phần cứng” được cài đặt mặc định trong mỗi con người. Một đứa trẻ chưa hề nếm mùi đau khổ, thế mà vừa sinh ra đã bật tiếng khóc để chào đời. Vui sao lại khóc? Đứa trẻ nào không khóc là có vấn đề, cha mẹ lo sốt vó. Như vậy, mặc nhiên người ta đã chấp nhận sự đau khổ là phần tất yếu. Đúng vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34).

ĐAU KHỔ CÓ VỊ ĐẮNG HAY NGỌT ?

Bài đọc I hôm nay là một phần của bài thứ tư trong số các Bài Ca Người Tôi Trung: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu” (Is 53:10). “Bị nghiền nát vì đau khổ” là để “được trường tồn”. Ngược đời quá! Với con người, như thế thật là chua chát, cay đắng, có thể không còn nước mắt để khóc nữa. Người Tôi Trung đó chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia giải thích: “Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11).

Đau khổ nào cũng cay đắng, đắng đến tê lòng, nhưng đau khổ vẫn có vị ngọt bùi kỳ lạ. Trong thực tế cuộc sống, khi chịu đau khổ vì tình yêu, có người gọi nỗi đau khổ đó là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm”. Vậy đó, đau thương mà vẫn thú vị, đau khổ mà vẫn dịu êm. Còn nước mắt lại được ví von là “giọt nước mắt ngà”. Thế mới lạ, thế mới cao thượng. Người đời con khả dĩ nhận thức như vậy huống chi những người tin nhận Đức Kitô là Thiên Chúa! Ai có thể cảm nhận được như vậy chính là người ta đã vượt lên trên nỗi đau khổ. Chắc chắn không ai có thể tránh đau khổ, nhưng muốn tránh đau khổ thì chỉ còn cách đi xuyên qua đau khổ. Đó là cách độc đáo để tự “vượt qua số phận”.

Người can đảm chấp nhận đau khổ mà không than thân trách phận, không so đo với những người may mắn khác, chắc hẳn người đó phải có chiều sâu tâm linh, sống trong niềm phó thác nơi Thiên Chúa quan phòng. Thật vậy, tác giả Thánh vịnh bày tỏ: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (Tv 33:4). Nói được như vậy là biết rõ Chúa là người thế nào: “Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:9). Chúng ta không thể nào hiểu hết tình yêu Chúa, cũng không thể cân-đo-đong-đếm Lòng Chúa Thương Xót, vì tình yêu thương ấy hoặc lòng trắc ẩn ấy vẫn triền miên hết ngày dài lại đêm thâu, suốt từ thuở hồng hoang trải dài từ đời nọ tới đời kia (x. Lc 1:50).

Tác giả Thánh vịnh tiếp tục minh định: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” (Tv 33:18-20). Ngay cả khi chúng ta quên Ngài mà Ngài vẫn luôn nhớ đến chúng ta, thậm chí cả khi chúng ta hoàn toàn đối nghịch với Ngài mà Ngài vẫn miệt mài tìm chúng ta để đưa về hưởng an bình nơi “đồng cỏ xanh rì bên suối ngọt lành” [x. Tv 22 (23)]. Vô tri bất mộ. Nhưng đã nếm thử Chúa ngọt ngào thế nào rồi thì không thể giữ riêng cho mình, mà tự lòng mình sẽ thôi thúc chia sẻ với người khác về Chúa: “Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Ngài luôn che chở phù trì” (Tv 33:20), đồng thời tin tưởng và vui mừng cầu nguyện liên lỉ: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22).

Và tới lúc này thì sự đau khổ không còn vị đắng nữa mà lại hóa vị ngọt ngào và êm dịu. Nghĩa là người ta có thể cảm nhận sâu sắc thế nào là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm” hoặc “giọt nước mắt ngà”.

Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin” (Dt 4:14). Niềm tin luôn quan trọng trong cuộc sống đời thường, đức tin càng quan trọng gấp bội trong đời sống Kitô hữu, nhất là chúng ta đang sống trong Năm Đức Tin (*), đồng thời còn phải lưu ý việc tân Phúc Âm hóa.

Thánh Phaolô vừa giải thích vừa khuyến khích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa lớn hơn cả tội lỗi của cả nhân loại”. Quả thật, nếu Lòng Chúa Thương Xót không lớn lao hơn mọi thứ xấu xa tồi tệ nhất trên đời này thì chúng ta chết ngay lập tức. Tại sao? Không khí là bằng chứng sống động về Lòng Chúa Thương Xót: Nếu không khí loãng hơn một chút hoặc đậm đặc hơn một chút, chúng ta đủ chết ngắc rồi chứ đừng nói chi đến thiếu không khí. Đơn giản về không khí thôi thì chúng ta cũng phải không ngừng tạ ơn Chúa rồi, đừng nói chi đến những thứ khác!

ĐAU KHỔ CÓ ĐÁNG MƠ ƯỚC ?

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây” (Mc 10:35). Rào trước đón sau, thậm chí như “ra điều kiện” với Chúa vậy. Và chúng ta cũng thường xuyên có cách cầu nguyện như vậy. Chúa Giêsu hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” (Mc 10:36). Các ông thưa ngay, không hề ngại ngùng: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10:37). Rất thẳng thắn, rất thực tế, rất rõ ràng. Đây là cách cầu nguyện vị kỷ và tìm tư lợi. Hai con trai ông Dêbêđê chắc mẩm Sư phụ mình rất “ngon”, nổi tiếng như cồn, quyền phép vô song, uy tín vô cùng, chắc chắn Sư phụ sẽ lên ngôi báu trị vì thiên hạ, làm cận thần của Thầy mình thì còn gì oai hơn chứ? Trên cả tuyệt vời! Nếu là chúng ta, có thể chúng ta không muốn làm cận thần như họ, vì như vậy vẫn “bèo” lắm, mà có thể chúng ta muốn làm phó nguyên soái hoặc thủ tướng, chí ít cũng phải xin làm bộ trưởng.

Tuy nhiên, Đức Giêsu bảo ngay: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10:38). Chén này không phải là chén mật hoặc chén sữa, cũng chẳng phải là chén cà-phê, càng không phải là chén mật ngọt, mà là chén mật đắng; phép rửa này không rửa bằng nước mà rửa bằng máu tươi. Có lẽ các ông không hiểu ý Chúa nên mạnh dạn đáp: “Thưa được” (Mc 10:39a). Quá ngon!

Đức Giêsu thản nhiên: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được” (Mc 10:39b-40). Vế thứ hai trong câu nói của Chúa Giêsu thật đáng lưu ý. Nghe Thầy trò họ đối thoại, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với anh em Giacôbê và Gioan. Đó cũng chính là động thái của chúng ta ngày nay, cũng ghen ăn tức ở chứ chẳng hơn gì ai!

Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết rằng những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10:42-44). Và Ngài dẫn chứng: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).

Vấn đề phục vụ là chuyện rất tế nhị, dễ “chạm” vào “phần mềm nhạy cảm” của bất kỳ ai – dù đời hay đạo. Nhưng Lời Chúa quá rõ ràng, không bóng gió, không “nói khéo”, không tránh né. Tuy nhiên, trong sinh hoạt thường nhật, cái mà người ta nói là phục vụ người khác nhưng thực chất có thể lại chỉ là cung cách “phục vụ có điều kiện”.

Phục vụ cũng liên quan đau khổ. Hầu như mọi thứ đều liên đới với nhau, nối kết như mạng nhện vậy, nối kết không trực tiếp thì gián tiếp. Trên một tấm bảng đồng, người ta khắc những dòng chữ này:

Lạy Chúa, con cầu xin được Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu đuối để biết vâng lời và khiêm hạ.
Con cầu xin có Sức Khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con chịu tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.
Con cầu xin được Giàu Sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.
Con cầu xin có Uy Quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết cần Chúa.
Con cầu xin cho Có Tất Cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để tận hưởng mọi sự.
Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước mà con không hề biết cầu xin, thế mà Chúa vẫn ban cho con thật dư đầy từ lâu.
Lạy Chúa, hóa ra con lại là người hơn hết trên đời này, bởi con đã nhận được vô vàn ân phúc của Chúa.

Toàn những thứ trái ngược nhau. Tuy nhiên, chúng ta khả dĩ nhận thấy rằng đau khổ không là điều đáng nguyền rủa, mà ngược lại, đau khổ là điều đáng mơ ước: Thánh giá Chúa trao – như người ta thường nói với người gặp đau khổ. Vui chịu đau khổ là sống đức tin, là bước qua cửa hẹp (Mt 7:13-14; Lc 13:24), là vác thập giá theo Chúa (Mt 10:38; Lc 14:27), là từ bỏ mình (Mt 10:39; Lc 14:33).

Năm Đức Tin đã khởi đầu, nhắc nhở chúng ta phải nghiêm túc xem lại đức tin của chính mình: “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10:32-33).

Lạy Thiên Chúa nhân hậu, xin ban cho chúng con lòng can đảm và khôn ngoan để chúng con tuyên xưng Danh Chúa mọi nơi và mọi lúc, đồng thời biết dùng ánh mắt đức tin để nhân biết Thánh Ý Ngài trong từng nỗi đau khổ của cuộc đời. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Con Người đến để phục vụ

“Sự phục vụ được nói đến ở đây, là dành cho mọi người, không loại trừ ai, và là sự phục vụ mà người môn đệ không được né tránh , cũng không được tự ý chọn làm hay không.”

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 10,35-45) kể lại câu chuyện hai anh em con ông Dêbêđê xin Đức Giêsu một sự ưu đãi. Lời xin này nhận được câu trả lời của Đức Giêsu và sự bực bội của các môn đệ khác. Đức Giêsu nhân cơ hội đó liền đưa ra những lời giáo huấn quan trọng liên quan đến cách hành xử của các môn đệ trong cộng đoàn.
“Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây" (c.35).
Giacôbê và Gioan là hai người con trai của ông Dêbêđê. Các ông đã đi theo Đức Giêsu từ buổi đầu hành trình công bố Tin Mừng của Đức Giêsu. Cùng với Phêrô và Anrê, các ông làm thành nhóm bốn môn đệ đầu tiên được Đức Giêsu kêu gọi đi theo Người (1,16-20). Cùng với Phêrô, hai ông làm thành nhóm ba người hạt nhân của Nhóm Mười Hai. Ba người này là những kẻ duy nhất được Đức Giêsu cho đi với Người trong phép lạ làm cho con gái ông Giaia sống lại (5,37) và trong biến cố Người biến hình đổi dạng (9,2). Nói cách khác, các ông đã được trải nghiệm một cách đặc biệt về quyền năng của Đức Giêsu và về vinh quang thiên thai của Người.
Hôm nay, hai người con ông Dêbêđê cùng nhau đến với Đức Giêsu. Trước hết, họ muốn biết chắc rằng Đức Giêsu sẽ không từ chối lời xin mà họ sắp thưa với Người, cho dù từ trước tới nay, chưa bao giờ họ nghi ngờ về lòng tốt và về quyền năng của Đức Giêsu. Sự kiện này cho thấy điều họ đang ấp ủ trong lòng là một điều quan trọng đối với họ, một điều thuộc về cõi lòng sâu xa của họ, một điều nung nấu mạnh mẽ tâm can họ. Đồng thời sự kiện này cũng chứng tỏ bản thân họ đang cảm thấy điều họ sắp xin là một điều rất tế nhị.
“Đức Giêsu hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?" (c.36). Đức Giêsu tỏ ra không bận tâm đến chuyện có phải từ chối hay không lời xin của các ông Giacôbê và Gioan.  Khi thấy như thế, “các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang" (c.37). Ở 8,38 Đức Giêsu đã từng nói đến việc Con Người ngự đến trong vinh quang của Chúa Cha. Hai môn đệ Giacôbê và Gioan nghĩ đến việc Đức Giêsu ngự trên ngai vinh quang trong Vương Quốc thiên sai, hoặc là trong tư cách Thẩm Phán cánh chung hoặc là trong tư cách Đấng Mêsia chủ tọa bữa tiệc thiên sai. Các ông nghĩ đến những quy chế được thực hiện trong Vương Quốc thiên sai đó, và các ông xin cho mình được ở vào những vị trí vinh dự nhất bên cạnh Đức Giêsu trong Vương Quốc.
Các môn đệ chưa từng xin Đức Giêsu điều gì. Thế mà hai ông Giacôbê và Gioan lại xin cho mình những điều lớn lao nhất, là được tham dự ở những vị trí cao cả nhất vào vinh quang của Thầy. Trước đây, các môn đệ đã từng cãi nhau về chuyện ai là ngươi lớn hơn cả trong các ông (9,33-34). Bây giờ, hai ông Giacôbê và Gioan không muốn tranh cãi với các môn độ khác về điều đó nữa. Các ông muốn chiếm vị trí đó bằng một quyết định rõ ràng và một sự bảo đảm chắc chắn của chính Đức Giêsu.
Đức Giêsu không từ chối lời xin của các ông. Nhưng Người yêu cầu các ông hiểu đúng điều các ông xin và những gì liên hệ đến lời xin đó. “Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được" (cc.38-40). Có hai điều các ông đã không ý thức đầy đủ khi họ ngỏ lời xin: (1) sự tham dự vào vinh quang của Đức Giêsu giả thiết sự tham dự vào cuộc thương khó của Người (cc.38-39); (2) Thiên Chúa mới là Đấng quyết định vị trí của mỗi người trong Vương Quốc thiên sai mà trung tâm là Đức Giêsu (c.40).  
Trước đây, khi các môn đệ tranh cãi nhau xem ai trong số họ là người lớn nhất, Đức Giêsu đã cho họ biết đâu là con đường đích thực làm nên sự lớn lao đích thực (9,34-35). Bây giờ, đối diện với ước vọng của hai môn đệ Giacôbê và Gioan được tham dự vào vinh quang của Người với những vị trí đặc biệt nhất, Người muốn, trước hết, làm cho họ hiểu nội dung thật của con đường đưa họ đến chỗ được tham dự vào vinh quang của Người: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” Đức Giêsu sử dụng các hình ảnh của một số bản văn Cựu Ước để nói về những gì Người sắp phải trải qua (về “chén”: xem Is 51,17; Gr 25,28; 49,12; Ed 23,32-34...; về “sự dìm”, xem Tv 69,2-3; 14,41...). Người sẽ bị trao nộp vào tay người đời và họ sẽ giết chết Người (9,31), và đó lại là điều Cha muốn (14,36; x. 14,41).
Vậy Đức Giêsu hỏi hai môn đệ xem họ có thể chịu cùng một số phận đó với Người hay không. Một cách hết sức nhanh chóng, như thể chẳng kịp suy nghĩ kỹ, họ trả lời: “Thưa có”. Người bảo: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu”. Thực ra, sau này, khi Đức Giêsu bị bắt, hai ông Giacôbê và Gioan sẽ chạy trốn và biến mất, như các môn đệ khác. Tuy nhiên, lời hứa của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay cho các ông được uống cùng chén với Người không bị hủy bỏ, nhưng sẽ thành hiện thực sau này, khi các ông chịu tử đạo vì Danh Chúa Giêsu (xem thí dụ Cv 12,1-2).
Thực ra, bất chấp tính chất tham vọng và mù quáng, lời xin của hai ông Giacôbê và Gioan dầu sao vẫn chứng tỏ sự tin tưởng mạnh mẽ của họ, rằng hành trình của Đức Giêsu đang dẫn tới vinh quang. Trong các bài Tin Mừng của hai Chủ Nhật trước, chúng ta đã gặp thấy niềm khao khát sự sống đời đời mà các môn đệ mang trong tâm hồn mình khi đi theo Đức Giêsu (10,13-31); hôm nay, khao khát ấy được diễn tả dưới một kiểu nói khác: được tham dự vào vinh quang của Người. Tất nhiên tham vọng chiếm chỗ nhất là không hay, nhưng khao khát của hai môn đệ ít nhất cũng cho thấy trong cái nhìn của các ông, trung tâm vẫn là Đức Giêsu và vinh quang đích thật sẽ tùy thuộc vào Người.
Từ lời xin có phần còn chưa chuẩn của hai môn đệ, Đức Giêsu nêu lên một điều quan trọng và căn bản: theo chương trình của Thiên Chúa, con đường để Đức Giêsu, và cùng với Người là các môn đệ, đi đến vinh quang, sẽ phải đi ngang qua cuộc khổ nạn, chén đắng và phép dìm. Và Đức Giêsu hứa với hai môn đệ là họ sẽ được uống chén đắng đó với Người.
“Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan” (c.41). Phản ứng tức tối của mười môn đệ là dễ hiểu xét về mặt con người.
“Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người" (cc.42-44). Trước hết, Đức Giêsu nói đến một chuyện mà các môn đệ đều biết, về thái độ và cách hành xử của những người thủ lãnh các dân. Họ không ngừng mở rộng và kéo dài quyền thống trị của họ trên những kẻ yếu thế và bị trị. Rồi Người bảo các môn đệ: “Nhưng giữa anh em thì không được như vậy” (c.43). Hai lần Người nói “giữa anh em”, và hai lần Người công bố nguyên tắc phục vụ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (cc.43-44). Người đã từng dạy Nhóm Mười Hai: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (9,35). “Người phục vụ anh em” (c.43), “đầy tớ mọi người” (c.44) và “người phục vụ mọi người” (9,35) là ba cách nói diễn tả rõ ràng quy tắc hành xử trong cộng đoàn các môn đệ. Sự phục vụ được nói đến ở đây, như thế, là dành cho mọi người, không loại trừ ai, và là sự phục vụ mà người môn đệ không được né tránh, cũng không được tự ý chọn làm hay không.
“Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (c.45). Với lời khẳng định này, Đức Giêsu diễn tả ý nghĩa và mục đích của sứ mạng mà Người đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Có thể nói: chúng ta sẽ thật khó tìm được một lời tuyên bố nào khác của Đức Giêsu về công trình của Người mà rõ ràng và quan trọng hơn lời tuyên bố này. Người đến là vì Thiên Chúa đã sai Người (9,37). Theo chương trình và thánh ý của Thiên Chúa, toàn thể công trình của Đức Giêsu là phục vụ. Những gì Người đã thực hiện, đang thực hiện và sẽ thực hiện, đều chỉ là phục vụ và hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.
Thời xưa, những người nô lệ và những tù nhân bị trói chặt vào thân phận bi đát và không thể tự cứu mình khỏi thân phận đó. Tuy nhiên, nếu có một người thứ ba trả giá chuộc họ một cách thỏa đáng, thì họ sẽ có thể được thoát khỏi thân phận bi đát của mình và được tự do. Đức Giêsu dùng thực tế đó làm ẩn dụ để nói về công trình của Người. Người chính là người thứ ba; Người hiến chính mạng sống mình làm giá chuộc, và nhờ đó, mọi người được tự do. Quả thực, mọi người đều là nô lệ của tội lỗi và sự chết, và không ai đủ sức giải thoát mình và những người khác khỏi số phận đó. Chính Đức Giêsu và chỉ một mình Người, Con Thiên Chúa, mới có thể làm được điều đó. Chính sứ mạng phục vụ của Đức Giêsu, và là phục vụ đến hiến mạng sống làm giá chuộc, đã thiết lập nền tảng cho cuộc sống của người môn đệ. Người ta sẽ không thể là môn đệ của Đấng đến để phục vụ, nếu người ta từ chối phục vụ.
Gợi ý suy niệm và chia sẻ:
1. Từ lời xin có phần còn chưa chuẩn của hai môn đệ, Đức Giêsu nêu lên một điều quan trọng và căn bản: theo chương trình của Thiên Chúa, con đường để Đức Giêsu, và cùng với Người là các môn đệ, đi đến vinh quang, sẽ phải đi ngang qua cuộc khổ nạn, chén đắng và phép dìm. Muốn được tham dự vào vinh quang của Đức Giêsu, chúng ta phải tham dự vào cuộc thương khó của Người (cc.38-39).
2. “Người phục vụ anh em” (c.43), “đầy tớ mọi người” (c.44) và “người phục vụ mọi người” (9,35) là ba cách nói diễn tả rõ ràng quy tắc hành xử trong cộng đoàn các môn đệ. Sự phục vụ được nói đến ở đây, là dành cho mọi người, không loại trừ ai, và là sự phục vụ mà người môn đệ không được né tránh, cũng không được tự ý chọn làm hay không.
3. Theo chương trình và thánh ý của Thiên Chúa, toàn thể công trình của Đức Giêsu là phục vụ. Chính sứ mạng phục vụ của Đức Giêsu, và là phục vụ đến hiến mạng sống làm giá chuộc mọi người, đã thiết lập nền tảng cho cuộc sống của người môn đệ. Người ta sẽ không thể là môn đệ của Đấng đến để phục vụ, nếu người ta từ chối phục vụ.
4. Cũng chính vì thế, một trong những điểm cốt yếu làm nên thành công của việc truyền giáo chính là đời sống phục vụ. “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (c.45).
Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT

MUỐN LÀM ĐẦU PHẢI HẦU THIÊN HẠ

HIỆP SỐNG TIN MỪNG CHÚA NHẬT 29 TN B Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45

1.TIN MỪNG: Mc 10,35-45
(35) Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". (36) Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì? " (37) Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". (38) Đức Giê-su bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?". (39) Các ông đáp: "Thưa được". Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. (40) Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được". (41) Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. (42) Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. (43) Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; (44) Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. (45) Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người".
2.Ý CHÍNH:
Sau khi Đức Giê-su loan báo lần thứ ba về cuộc Thương Khó Người sắp trải qua, các môn đệ xem ra vẫn không hiểu và không muốn chấp nhận con đường đó.  Các ông vẫn đinh ninh rằng Thầy các ông sắp lên Giê-ru-sa-lem để làm Vua Mê-si-a và các ông đã tranh giành nhau vị trí quan trọng trong Nước Thiên Chúa mà Người sắp thiết lập (Mc 9,33-34; 10,35-40); Đức Giêsu đã nhắc nhở các môn đệ về bổn phận của người làm đầu là phải hầu thiên hạ và nên tôi tớ phục vụ mọi người (9,33; 10,41-45).
3.CHÚ THÍCH:
-C 35-38: +Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an: Gia-cô-bê và Gio-an là con ông Giêbêđê và bà Salomê và là anh em bà con của Đức Giê-su.. Hai ông thuộc Nhòm 12 Tông đồ, được Đức Giê-su kêu gọi đầu tiên và đã mau mắn bỏ thuyền và từ giã cha già mà đi theo Người (x Mt 4,21-22). Hai ông nhiệt thành bảo vệ Đức Giê-su và được Người gọi là "con cái của sấm chớp". +Chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin: Tin Mừng Mát-thêu thay lời xin của hai anh em bằng lời xin của bà mẹ. Có người cho rằng Mát-thêu muốn làm giảm tính tiêu cực của hai anh em qua việc đổ lỗi cho bà mẹ! 
-C 37-38: +Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang: Hai ông nghĩ Thầy sắp vào trong vinh quang là lên làm Vua Thiên Sai, nên xin hai chỗ vinh dự nhất là được ngồi hai bên tả hữu. +Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?: Hai ông đã không hiểu được ý nghĩa thực sự và kết cục là cái chết đau thương đang chờ đón Thầy tại Giê-ru-sa-lem, nên Đức Giê-su đã nhắc cho các ông về điều ấy.
-C 39-40: +"Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu: Đức Giêsu hứa cho các ông được chia sẻ trọn vẹn thân phận của Người. “Chén Thầy sắp uống” tượng trưng cho những đau khổ, “phép rửa Thầy sắp chịu” ám chỉ việc Người sẽ bị dìm trong lòng đất khi chết và được an táng trong mồ. Nhưng ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Lời tiên báo này đã được ứng nghiệm khi Gia-cô-bê là vị Tông đồ đầu tiên chịu tử vì đạo vào n ăm 42 do vua Hêrôđê An-ti-pa, như sách Tông Ðồ Công Vụ đã cho biết như sau: "Cùng thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay bắt bớ và làm khổ mấy người trong Giáo Hội, vua đã truyền chém ông Gia-cô-bê, anh của ông Gioan" (Cv 12,2). Còn Tông đồ Gio-an thì bị đi đày một thời gian trên đảo Pát-mốt thời hòang đế Do-mi-ti-en. Người đã bị bỏ vào vạc dầu sôi nhưng được Chúa cứu thóat. Ngài qua đời tại Ephêsô (Tiểu Á) dưới thời hòang đế Tra-jan sau năm 98. +Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được:  “Chuẩn bị cho ai” ám chỉ là do ý muốn của Chúa Cha, chứ không phải sự tiền định.
-C 41-42: +Mười môn đệ kia đâm ra tức tối: Các ông tức tối vì chính các ông cũng muốn được ngồi chỗ nhất trong Nước Thầy sắp thiết lập. +Những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân: Đức Giê-su giáo huấn môn đệ về quyền lãnh đạo: Quyền bính xã hội thường mang tính áp chế do tham vọng ca nhân muốn được ăn trên \ngồi trước.
-C 43-45: +Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em: Đức Giê-su phân biệt quyền bính trong Nước Trời hay Cộng đòan Hội Thánh mà Người sắp thiết lập. +Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người: Người đòi môn đệ và các mục tử lãnh đạo Cộng đòan phải noi gương Người để sống khiêm hạ và sẵn sàng phục vụ người dưới. +Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ: Đức Giê-su thường tự xưng mình là Con Người. Người luôn nêu gương khiêm hạ phục vụ và đòi môn đệ cũng phải học tập sống như vậy. +và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người: Giá chuộc ở đây thường là số tiền bỏ ra để mua sự giải thoát cho một tù nhân, hoặc để chuộc lại một người đang làm nô lệ. Tuy Đức Giê-su không bỏ tiền ra chuộc ai cả, nhưng Người chấp nhận trải qua cuộc tử nạn và phục sinh theo thánh ý Chúa Cha giống như giá chuộc để đền tội thay và giải thóat mọi người khỏi án chết muôn đời.
4.CÂU HỎI: 1)Hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an là ai? 2)Hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an xin Đức Giê-su điều gì? 3)Chén Thầy sắp uống và phép rửa Thầy sắp chịu ám chỉ biến cố gì? 3)Bạn biết gì về cuộc tử đạo của Tông đồ Gia-cô-bê? 4)Tông đồ Gio-an đã uống chén khổ nạn do Chúa trao cho thế nào? 5)Chúa Cha “chuẩn bị cho ai” nghĩa là gì? 6)Tại sao mười môn đệ kia lại tức tối với hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an? 7)Đức Giê-su giáo huấn các ông về quyền lãnh đạo trong Nước Thiên Chúa thế nào? 8)Người muốn các môn đệ và các mục tử sau này phải noi gương Người ra sao? 9)”Giá chuộc muôn người” nghĩa là gì?
II.SỐNG LỜI CHÚA
1.LỜI CHÚA:“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người"(Mc 10,45).
2.CÂU CHUYỆN: GƯƠNG HY SINH PHỤC VỤ CỦA ĐÔI TÂN HÔN:
Một câu chuyện phục vụ Mẹ TÊ-RÊ-SA CAN-QUÝT-TA hay kể lại như sau:
“Vào năm 1982, một hôm có đôi thanh niên nan nữ tới nhà chúng tôi tại Can-quýt-ta đến trao tặng một món tiền lớn giúp bữa ăn cho người nghèo. Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi: “Do đâu mà hai con có món tiền lớn vậy?” Họ trả lời: “Chúng con vừa tổ chức lễ cưới được hai ngày nay. Trước lễ cưới, chúng con bàn nhau sẽ thuê áo cưới thay vì điu may, cũng không liên hoan linh đình, mà dùng khoản tiền ấy trao tặng cho những người kém may mắn. Vì chúng con yêu nhau và muốn có một kỷ niệm đẹp nhân ngày cưới nhau”.
Ðể biết rõ thêm, mẹ Têrêsa hỏi: “Tại sao chúng con quyết định táo bạo như thế? Chúng con không sợ việc làm như vậy sẽ làm cha mẹ và họ hàng buồn lòng hay sao?” Hai bạn trẻ ấy trả lời: “Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống bằng một sự hy sinh mà cả hai đều cùng nhau thực hiện”.
Mẹ Tê-rê-sa kết luận: “Thật là tuyệt vời khi nghĩ đến một tình yêu cao quí như vậy. Tôi luôn cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho những người trẻ ơn thánh và sức mạnh, để trong ngày thành hôn, họ có thể trao cho nhau trái tim trong sạch, trái tim trinh khiết, thân xác trong trắng… là món quà lớn lao của tình yêu nhau”.
3.SUY NIỆM:
1)Con ngư6ời ai cũng muốn được ngồi vào chỗ nhất :
Hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đã không ngần ngại xin Đức Giê-su cho ngồi hai bên tả hữu Thầy, là hai chỗ tốt nhất khi Thầy lên làm Vua Mê-si-a. Mười môn đệ kia nghe vậy rất bực mình. Điều này cho thấy họ cũng muốn ngồi chỗ ấy.
Thực ra, tự bản chất, mỗi chúng ta đều muốn được “ăn trên ngồi trước”. Xã hội cũng tôn vinh những người địa vị cao, khuyến khích những ngừơi đoạt giải nhất trong các cuộc thi, hoan hô các nhà vô địch “khỏe nhất, nhanh nhất, xa nhất” như trong các Đại Hội Thể Thao Ô-lym-pic…
2)Đức Giê-su “đến để phục vụ hơn là được phục vụ”:
Khi đi giảng đạo, Đức Giê-su luôn nêu gương khiêm hạ phục vụ tha nhân: Người đã làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế như: “Cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Lc 7,22; Is 35,5-6; 42,7). Để cứu độ chúng ta, Người chấp nhận hy sinh chịu chết trên thập giá, hầu chứng tỏ một tình yêu tột đỉnh (x Ga 15,13). Người cũng nói với các môn đệ rằng: “Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”(Mc 10.45). Trong bữa tiệc ly Người đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ và sau đó đã dạy các ông bài học yêu thương phục vụ lẫn nhau như sau: “Anh em gọi Thầy là “Thầy” là “Chúa”. Điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là “Thầy” là “Chúa”. Vậy nếu Thầy là “Chúa” là “Thầy”, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15).
3)Chúng ta phải làm gì?
-Bác sĩ TOM DOLLY đã nói như sau: “Không ai quá nghèo đến độ không có một cái gì đó để trao tặng cho người khác”. Dù là người bất tài, xấu xí hay bệnh tật đến đâu, không ai trong họ là người hòan tòan vô dụng”.
-Ở bất cứ đâu và trong bất cứ hòan cảnh nào mỗi người chúng ta đều có thể yêu thương và phục vụ tha nhân: Là người bán hàng: chúng ta có thể nói với khách hàng rằmg: “Tôi có thể giúp gì được cho bạn?”. Là bác sĩ hay y tá bệnh viện, chúng ta có thể ân cần phục vụ bệnh nhân; Là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, chúng ta có thể phục vụ người nghèo, bệnh tật và bị bỏ rơi noi gương Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta. Vấn đề là chúng ta có sẵn sàng mở rộng con tim để đón nhận và yêu thương phục vụ tha nhân như chính Đức Giê-su hay không?
-Buổi tối mỗi người hãy dành một phút xét mình trong giờ kinh tối gia đình: “Hôm nay tôi đã làm gì để phục vụ tha nhân? Như: Nở nụ cười thân thiện với người mới gặp; Trao cái nhìn yêu thương cho một người ăn xin; Lắng nghe cảm thông với một người đang lo âu; Nói một lời an ủi người chán nản …Mỗi lời nói, cử chỉ, việc làm kèm theo tình thương sẽ là món quà quý phục vụ tha nhân.
4.THẢO LUẬN: 1)Bạn cần làm gì để tránh thói ham mê danh vọng chức quyền thế gian? 2)Tuần này bạn sẽ làm gì để thực tập khiêm hạ phục vụ?
5.LỜI CẦU:
Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã hạ mình như đầy tớ phục vụ môn đệ và tình nguyện chịu chết đền tội thay cho chúng con. Xin giúp chúng con hiểu được tình yêu vô biên của Chúa và noi gương Chúa yêu thương phục vụ mọi người.  Xin cho chúng con biết năng nghĩ đến người bên cạnh và phục vụ họ như phục vụ chính Chúa để xứng đáng thành môn đệ thực sự của Chúa.
X)HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ)XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com