23 tháng 11, 2012
Đệ nhất Thiên Vương
(Chúa nhật XXXIV TN, năm B – Lễ Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ) VUA LÀ AI ? Thời quân chủ, người ta “quy ước” trật tự xã hội là Quân-Sư-Phụ, vua là nhất, sau đó là người dạy, rồi mới tới cha mẹ. Vua hoặc Hoàng đế là người có quyền lực cao nhất, kể cả quyền sinh sát: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Vua được mệnh danh là Thiên tử – con của Trời, thần dân phải phụng mệnh tối đa, vâng lệnh “tối mặt”. Vua bảo chết mà chết mới là trung thần (sic!).
TẤM GƯƠNG TRONG LÂU ÐÀI VERSAILLES
Lâu đài Versailles ở ngoại ô Paris là một trong những danh lam thu hút nhiều du khách nhất. Trong lâu đài, nơi mà du khách cảm thấy bị giữ chân lâu nhất đó là phòng khánh tiết bằng pha lê, được trang bị bằng hàng ngàn tấm kính từ trên trần nhà đến các vách tường.
Du khách sẽ ngỡ ngàng vì một hiện tượng lạ lùng: Nếu bạn đưa tay ra và chỉ về một phía nào đó, bạn sẽ thấy có hàng trăm ngàn cánh tay và hàng ngàn khuôn mặt đang hướng về bạn như đang ngắm nhìn bạn. Bạn sẽ cảm thấy như mọi người đang chú ý đến bạn. Nhưng nhìn cho kỹ thì tất cả những cánh tay, tất cả những khuôn mặt đó đều là của bạn.
Ðó là hình ảnh của mỗi người trong chúng ta. Ai trong chúng ta cũng cho mình là quan trọng nhất. Tất cả mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi lời nói, đều tập trung vào bản thân chúng ta và trong lòng chúng ta không còn một chỗ trống nào dành cho người khác.
Cái tôi trong chúng ta có thể là một trở ngại cho tương giao giữa chúng ta và người khác cũng như tương giao giữa chúng ta và Chúa. Sự sống của Chúa chỉ có thể lớn mạnh trong chúng ta và sự sống của chúng ta chỉ có thể triển nở là lúc chúng ta thực sự sống cho Chúa. Lời của Ngài phải tiêu diệt cái tôi ích kỷ trong chúng ta để chúng ta có thể lớn lên trong Người. Nói như thánh Gioan Tẩy Giả khi gặp chúa Giêsu: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại". Thưa bạn, đó là bí quyết trong cuộc sống của người Kitô chúng ta.
Tác giả Veritas
NỒI CHÁO TUYỆT VỜI
Một hôm, có một người lạ mặt đến gõ cửa nhà của một bà góa nghèo để xin ăn. Nhưng người đàn bà cho biết trong nhà bà không còn gì để ăn cả. Người lạ mặt mới nói: "Bà đừng lo, tôi có mang theo một hòn đá có thể biến nước thành một thứ cháo tuyệt vời nhất trần gian. Nhưng trước tiên bà hãy cho tôi mượn một cái nồi lớn".
Thấy người lạ mặt đề nghị một cách nghiêm chỉnh, cho nên người đàn bà mới cho nước vào cái nồi lớn nhất và đặt lên bếp. Khi nước vừa sôi, thì người đàn bà chạy đến các nhà láng giềng để mời sang chứng kiến điều lạ lùng sắp xảy ra. Trước đôi mắt mở to của mọi người, người khách lạ mới cho viên đá vào nồi, rồi dùng muỗng lấy nước đưa lên miệng nếm, ông vừa hít hà: "Thật là tuyệt diệu! Nhưng giá có thêm một ít khoai thì tốt hơn". Nghe thế, một người đàn bà có mặt bèn sốt sắng đề nghị: "Trong bếp tôi còn một ít khoai". Nói xong, bà đon đả chạy về nhà mang khoai sang. Người khách lạ cho những miếng khoai tây được thái nhỏ vào trong nồi. Một lát sau, ông nếm thử và nói: "Tuyệt! Nhưng giá có thêm chút thịt thì chắc chắn phải ngon hơn".
Nghe thế , một người đàn bà khác chạy về mang thịt đến. Người lạ mặt cũng cho thịt vào nồi, đảo lên trộn xuống một hồi rồi nếm thử và nói: "Bây giờ thì quý vị thưởng thức nồi cháo của tôi, nhưng nếu có thêm một chút rau cỏ cho vào thì là hoàn hảo". Dĩ nhiên, ai cũng muốn nếm thử nồi cháo, cho nên ai cũng hăm hở đi tìm rau. Có người mang đến nguyên một giỏ củ cà rốt và hành. Người lạ mặt cho các thứ rau vào nồi rồi ra lệnh cho người đàn bà chủ nhà: "Bây giờ tôi cần một ít muối và tiêu nữa là có được một nồi cháo ngon nhất trần gian". Khi nồi cháo đã sẵn sàng, ông hối thúc mọi người đi tìm chén bát đến. Có người mang cả bánh mì và trái cây.
Mọi người vui vẻ ngồi vào một bàn tiệc bất ngờ. Trong khi mọi người nói cười rộn rã, thì người khách lạ lẻn đi. Ông vẫn để lại hòn đá mà mỗi khi cần đến, những người hàng xóm có thể sử dụng để cùng nấu chung với nhau một nồi cháo ngon nhất thế giới.
Một hòn đá, cộng với một ít thực liệu và gia vị sẽ tạo nên một nồi cháo ngon nhất trần gian: đó là hình ảnh của sự đóng góp vào phép lạ mà Thiên Chúa không ngừng thực thi cho con người.
Bà góa thành Sarepta đã dâng cúng một ít bột mì cho tiên tri Êlia để từ đó được lương thực hằng ngày trong suốt mùa hạn hán. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nhân bánh và cá cho hơn năm ngàn người ăn từ năm chiếc bánh và hai con cá của một cậu bé...
Với một chút đóng góp từ lòng quảng đại của con người, Thiên Chúa có thể làm những phép lạ cả thể. Tất cả những công trình bác ái và giáo dục trong Giáo Hội đều bắt nguồn một cách khiêm tốn: Chúng ta hãy nhìn vào công trình của Mẹ Têrêxa thành Calcutta, của cha Pierre, sáng lập cộng đồng Emmaus, của cha Van Straatten, sáng lập Hội trợ giúp các Giáo Hội đau khổ: một căn nhà nhỏ, một miếng thịt mỡ, một công việc vô danh... Phép lạ của Thiên Chúa thường bắt đầu bằng những đóng góp nhỏ và âm thầm của con người.
Thiên Chúa luôn ban cho mỗi người chúng ta cơ may để đón nhận phép lạ của Ngài. Ngài chỉ cần một chút lòng quảng đại của cúng ta. Nếu chúng ta sẵn sàng dâng tặng cho Ngài một chút những gì chúng ta có thì có biết bao nhiêu người chung quanh sẽ được chung hưởng phép lạ của Thiên Chúa.
Tác giả Veritas
21 tháng 11, 2012
Đức Giêsu là Vua – vị Vua rất lạ lùng
(Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ - năm B) "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Dothái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này". (x. Ga 18, 33b-37).
Cách đây một tháng, tôi có dịp đi thăm Đà Lạt, một anh bạn của tôi ở Đà Lạt có dẫn đi xem một vài địa điểm du lịch tại đây. Một trong số những địa điểm tham quan mà tôi thấy rất thích, đó là Dinh Bảo Đại. Người hướng dẫn giới thiệu cho chúng tôi về cuộc sống, nơi làm việc và khu vui chơi giải trí của vua cũng như hoàng triều. Sau khi tham quan xong, hai anh em chúng tôi có chung một nhận định như sau: vua Bảo Đại là một vị vua trần gian, tại một đất nước nhỏ bé, ấy vậy mà có cả một cung dinh thự nguy nga với đầy đủ tiện nghi sang trọng của thời bấy giờ, đấy là chưa kể đến cung đình của nhà vua ở Huế. Còn Vua Giêsu, một vị Vua trên hết các vua, Chúa các chúa. Một vị Vua Cả Trời đất, nhưng cuộc sống, lời rao giảng và ngay cả ngày đăng quang của Người lại rất đặc biệt. Khác hẳn những vị vua của trần gian. Phải chăng đây là điều lạ lùng nơi Vua Giêsu Kitô mà hôm nay chúng ta mừng?
Trước khi tìm hiểu về những điều lạ lùng nơi Vua Giêsu, và những bài học mà Người ban cho chúng ta, chúng ta cùng nhau xác tín căn tính của Người:
Quả thật, tự bản tính của Chúa Giêsu là Vua như lời Người mạc khải: “Tôi và Chúa Cha là một" (Ga 10,27-30); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9). Và khi quan Philatô hỏi Chúa Giêsu có phải là vua không? Người đã trả lời lập trường của mình: "Quan nói đúng. Tôi là Vua” (Ga18,36), nhưng: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Dothái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này". (x. Ga 18, 33b-37). Lập trường thứ hai mà Người muốn tỏ cho Philatô được rõ, đó là: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Và cuối cùng, Chúa Giêsu khẳng định Thiên Tính của mình khi nói: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19,11). Như vậy, quá rõ, Chúa Giêsu - Người là vua tự đời đời, bởi vì Người là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu. Nhưng Người lại là vị Vua rất lạ lùng.
Lạ lùng lúc sinh ra: “Hôm nay Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Dấu chỉ để nhận ra Người là: một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,11-12). Khi đặt bút viết về mầu nhiệm Giáng Sinh, nhà thơ, linh mục Võ Thành Tâm đã viết:
“...Gió mong quạnh trong hang lừa ẩm ướt
Chúa muôn loài mặc lốt trẻ sơ sinh…
[...]
Bê Lem ơi! Giờ phút ấy có hay
Vua cao cả gặp ngay nhiều tủi cực
[...]
Đàn súc vật tới chầu quanh máng cỏ
Kính dâng Ngài hơi thở ấm thô sơ
[...]”.
Nếu các hoàng tử con vua ở trần gian sinh ra là một điều trọng đại: cả quốc gia lẫn cung đình hân hoan, hoàng triều trang hoàng tráng lệ, vui ca, nhảy múa để đón con vua chào đời, ngược lại, vị “Hoàng Tử” Con Trời ngự đến lại mang trong mình hình hài của một trẻ thơ nằm trong máng cỏ của bò lừa, nơi một cách đồng hoang vu lạnh giá...
Lạ lùng thời thơ ấu: Chúa Giêsu mới sinh ra đã bị vua Hêrôđê tìm giết, “Nên thánh Giuse và Đức Mẹ Maria phải bồng Ngài trốn sang Ai Cập” (x. Mt 2,13-16). Không như bao vị hoàng tử khác, từ lúc ấu thơ đã được chăm sóc kỹ lưỡng, còn“Hoàng Tử” Giêsu của chúng ta lại khác hẳn, Người đã chịu đồng cảnh ngộ với những trẻ em thời bấy giờ do sự ghen ghét của ông vua trần gian là Hêrôđê. Và, cũng không như bao vị hoàng tử khác, thiếu thời của các hoàng tử đều được ở riêng để huấn luyện cung cách thống trị nhằm chuẩn bị cho việc nối ngôi sau này, thì “Hoàng Tử” Giêsu lúc 12 tuổi lại không phải vậy: Người luôn tìm cách chu toàn bổn phận của người con với Cha của mình: “Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?" (Lc 2,49).
Lạ lùng khi tổ chức triều đình: nếu các vua trần gian lấy quyền của riêng mình để chọn lựa những người mình ưa thích, thì Chúa Giêsu tổ chức triều đình và tuyển chọn các quan đại thần lại bằng con đường cầu nguyện: "Suốt đêm, Người cầu nguyện, Người chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ" (Lc 6,12). Nếu các vua trần gian có cả một hệ thống quân sự, thống trị và củng cố vương quyền của mình bằng quyền lực, thì Chúa Giêsu lãnh đạo bằng con đường tình yêu và vâng phục, bởi vì trong Vương Quốc ấy, sự thật, công lý và bình an ngự trị.
Lạ lùng trong tiến trình “đăng quang”: Người là Vua, tiến vào thành của mình, nhưng lại khiêm tốn ngồi trên lưng lừa: “Nào thiếu nữ Xion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dc 9,9). Được dân chúng tung hô chúc tụng, nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, Người đã bị chính con dân của mình tìm bắt, đả đảo, chế nhạo và, đánh đập. Cuối cùng, họ “đăng quang” Người trên thập giá. Khi đã “đăng quang” xong, họ chế diễu Người đủ điều. Nhưng cũng chính trên thập giá, “vương quyền” của Người được tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết: "Đây là vua dân Do thái" (Lc 23, 38). Người ta cho rằng tấm bảng viết “Đây là vua dân Do thái” treo trên đầu của Người là một sự sỉ nhục, thì giờ đây lại là một bản tuyên tín “Người là Vua”. Điều lạ lùng hơn nữa là Vua Giêsu không có vương miện, chỉ có vòng gai. Không có vương trượng, chỉ có cây sậy. Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhuốc nhơ. Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Không thống trị bằng sức mạnh, chỉ có phục vụ trong yêu thương cho đến chết và chết trên thập giá.
Lạ lùng khi “xưng vương”: rất nhiều người, kể cả các môn đệ cũng thất vọng vì cơn hấp hối và cái chết của Người đã cận kề, thì anh trộm lành lại thốt lên lời hy vọng “lạy Ngài khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng” (Lc 23,42). Tiếng nói của anh bất ngờ vang lên như một lời minh oan cho Chúa Giêsu: Chúng ta chịu như thế này thật là đích đáng vì xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có tội tình gì đâu (x. Lc 23, 41); và anh đã tuyên xưng vương quyền của Người: “Khi nào Ngài về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng” (Lc 23,42). Qua lời cầu khẩn đó, anh vẫn tin cái chết không phải là hết, đồng thời tin vào Nước của Chúa Giêsu và anh hy vọng mình sẽ được dự phần vào Nước đó. Đúng như lời anh xin, ơn cứu độ của Chúa dành cho anh đã được thực hiện: "Hôm nay, anh sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng." (Lc 23,43). Quả thật, đúng như lời Chúa Giêsu đã nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môisê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,13-15). Và, “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi sự lên với tôi” (Ga 12,32),
Qua cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với quan Philatô, và, qua lời tuyên xưng của anh trộm lành, cũng như lời xác quyết của chính Người, một lần nữa, chúng ta đã hiểu được phần nào về nguồn gốc thần linh của Người. Người là Vua Sự thật, Công lý và Tình yêu. Không ai yêu như Người: “Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 34); hơn nữa, “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Chúa Giêsu đã yêu thương con người cho đến chết: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13); Người còn ban chính Thịt Máu của Mình làm của ăn của uống cho nhân loại để minh chứng tình yêu: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy; ăn em hãy cầm lấy mà uống, này là Máu Thầy” (Mc 14, 22-24); không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của Chúa Giêsu đối với con người: “Như Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em, hãy ở lại trong tình yêu Thầy” (Ga 15, 9); Người còn nêu gương và dạy cho chúng ta về sự khiêm nhường: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng khiêm nhượng” (Mt 12,29); hay “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị họ, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân... Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ hầu bàn, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ gì? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người hầu bàn” (Lc 22, 25-27). Khó nghèo để làm bạn với những ai bé nhỏ nghèo hèn: “Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu” (Lc 9,58); bình dân để không còn khoảng cách chủ - tôi, không còn phân biệt giàu nghèo, tội lỗi hoặc thánh thiện: “Nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ” (Mt 9,10); một vị Vua giải thoát dân của mình bằng con đường hy sinh mạng sống: “Máu Thầy đổ ra để cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28); và đã đem lại bình an cho dân: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con ” (Ga 14,27).
Ước gì khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, chúng ta học được bài học khiêm nhường, khó nghèo và yêu thương. Xin cho sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn vang vọng trong cuộc sống thường ngày của ta, để qua đó, ta luôn đứng về phía sự thật, bênh vực công lý, bảo vệ người nghèo, bị bỏ rơi trong xã hội. Sẵn sàng đón nhận đau khổ vì Chúa và vì đức tin khi phải làm chứng cho Nước Trời bằng con đường Sự thật. Xin cho chúng ta xác tín vai trò của mình ngày lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, là được tham dự vào chức năng Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Đế của Chúa Giêsu để biết“chọn sao cho trọn”, nhằm cùng nhau xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và tình thương ngay trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này. Như thế, Chúa Giêsu là vị Vua rất lạ lùng, thì chúng ta là con dân của Người trong Nước ấy, cũng sẽ là những con người lạ lùng khi sống và biểu dương tinh thần Kitô hóa và Kitô giới trong môi trường xã hội hôm nay.
Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, chỉ có Chúa là Đường, chỉ có Chúa là Sự thật, chỉ có Chúa là Sự sống, xin làm Vua cai trị lòng trí chúng con, xin cho lòng trí chúng con khi sống với những thực tại trần gian, luôn biết quy hướng tâm hồn của mình về Nước của Chúa, Nước của Công lý, Sự thật và Bình an. Ước gì sau cuộc đời trần thế này, chúng con cũng được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời như người trộm lành khi xưa. Amen.
Jos.Vinc. Ngọc Biển
CHÚA NHẬT XXXIII TNB: TẬN THẾ-BẠN SẼ LÀM GỈ?
Thưa quý OBACE, trong những thấp niên gần đây, lâu lâu người ta lại rộ lên tin đồn sắp tận thế, hoặc sắp tối ba ngày ba đêm. Không chỉ con người ngày nay, mà ngay từ cổ xưa, con người cũng vẫn tiên đoán sẽ có ngày trái đất và con người sẽ trải qua cuộc làm mới lại, chẳng hạn như lịch của người Maya cổ thì cho rằng vào ngày 22/12/2012 sẽ là ngày cuối cùng của vũ trụ. Điều đó chứng tỏ rằng con người từ xưa đến nay, có tôn giáo hay không cũng đều tin rằng vũ trụ này sẽ có ngày bị biến đổi. Ở Mỹ và một số quốc gia, một số người đã chuẩn bị cho ngày tận thế ấy bằng nhiều đồ tích trữ, từ đồ ăn thức uống, cho đến các đồ dùng của gia đình, ở Việt Nam cũng vậy có một thời người ta tích trữ mì gói và dầu đèn để dự trù cho ngày tận thế. Còn bạn, là người Công Giáo bạn chuần bị những gì cho ngày cuối cùng của cuộc đời?
Nhưng trước hết chúng ta cần xác định có ngày tận thế hay không? Thưa, chính Chúa Giêsu đã nói đến ngày Ngài sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết; và trời đất này sẽ qua đi để nhường chỗ cho trời mới đất mới và trước khi những sư kiện đó xảy ra thì sẽ có những dấu hiệu lạ lùng xuất hiện để báo trước ngày ấy. Một số tác giả thì cho rằng trời đất này sẽ trải qua một cuộc thanh tẩy để nên mới, chứ không bị hủy diệt để trở về hư vô, vì tác giả Thánh Vịnh cũng đã nói: Trời là của Chúa, còn mặt đất thì Chúa cho con cái lòai người, trời là ngai Thiên Chúa, còn đất là bệ kê chân người. Cách nói đó cũng diễn tả niêm tin rằng: Thiên Chúa sẽ không hủy diệt tạo vật của Ngài, nhưng Ngài sẽ làm cho nó nên hoàn hảo vào ngáy tận thế.
Vấn đề về ngày tận thế cũng được các tôn giáo giải thích theo cái nhìn riêng, và Kinh Thánh cũng có cách giải thích riêng theo quan điểm và truyền thống của mình. Các bài đọc của Chúa nhật hôm nay cũng đã đề cập đến các khía cạnh của ngày cuối cùng ấy. Bài đọc một sách Đaniel chúng ta vừa nghe, tác giả đã nhìn về một viễn tượng sẽ xảy ra cho con người, đó là thới kỳ Thiên Chúa sẽ sai các Thiên Thần của Ngài đến thanh lọc con người, cuộc thanh lọc này được diễn tả là hết sức ngặt nghèo và khủng khiếp chưa từng thấy, chỉ những người tín trung với Thiên Chúa, những người được tuyển chọn và được ghi tên trong sách sự sống thì sẽ được cứu thoát. Tác giả cũng tiên báo số phận chung cuộc của tất mọi người: Ngày đó tất cả mọi người chết cũng sẽ chỗi dậy, người lành thì để được hưởng phúc trường sinh cả hồn lẫn xác, còn kẻ dữ thì phải chịu tủi hổ muôn đời, các hiền sĩ sẽ chói lọi như những vì sao ở trên trời. Như thế, theo tác giả sách Daniel, ngày tận thế sẽ là ngày kinh hoàng cho những kẽ dữ kẻ bất trung mà thôi, còn ngược lại sẽ là ngày hân hoan mọng đợi cho những kẻ lành, người công chính.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu làm sáng tỏ thêm cái nhìn của sách Daniel về ngày quang lâm, ngày Ngài sẽ trở lại trong vinh quang. Nếu như lần thứ nhất Ngài đễ đến trong khiêm nhường đơn sơ dưới hình hài của một em bé sơ sinh, thì lần thứ hai Ngài sẽ đến trong vinh quang của một vị Thiên Chúa, với uy quyền của một thẩm phán để xét xử muôn dân muôn nước, để tái lập sự công bằng cho Thiên Chúa, cho con người và cho vũ trụ; Lần thứ nhất Ngài đền trong nhân từ và chờ đợi, còn lần thứ hai này Ngài sẽ đến trong công thẳng để xét xử, ngày ấy Thiên Chúa sẽ cho các Thiên Thần đi quy tụ tất cả mọi người, và mọi điều tốt điều xấu của mỗi người sẽ được phơi bày để chịu một cuộc xét xử công khai và lãnh án chung cuộc cho mình.
Như thế cuộc phán xét vào ngày cuối cùng của vũ trụ chắc chắn sẽ đến, tuy nhiên Chúa Giêsu đã muốn nhấn mạnh đến một thái độ cần thiết khác, đó không phải là việc tìm hiểu chính xác ngày giờ biến cố đó sẽ xảy ra, có thể là ngay hôm nay hay ngày mai, điều đó không quan trọng cho bằng mỗi người biết nhìn những dấu hiệu báo trước đang xảy ra, để kịp thời điều chỉnh cuộc sống mình. Giống như, nhìn sấm chớp thì đóan được trời mưa, thấy cây vả đâm chồi thì biết đó là mùa mưa, mùa hè đã đến, thì cũng vậy Thiên Chúa vẫn cho những dấu lạ xảy ra trong vũ trụ để mỗi người có thể đọc được tín hiệu báo trước ngày của Chúa, để biết chuẩn bị cho cuộc đời mình trở nên sẵn sàng, thanh thản và hân hoan ra đón Chúa. Chỉ chi khi mỗi người có một tâm hồn sạch tội, sống trong tình bằnh hữu với Thiên Chúa thì mới không sợ hãi, không phải lẩn trốn, còn những người để mình sống trong sự dửng dưng lạnh lùng, thù nghịch với Thiên Chúa, thì ngày ấy họ cũng sẽ phải đối diện với gương mặt lạnh lùng, và là ngày sơ hãi đối với họ.
Ngày tận thế không chỉ là ngày kết thúc của vũ trụ, nhưng trước khi ngày ấy xảy ra thì mỗi chúng ta sẽ phải chứng kiến ngày kết thúc của chính mình, ngày tạ thế, thì đó cũng chính là ngày tận thế của mỗi người. Ngày ấy chính là ngày Thiên Chúa đến với mỗi người, và mỗi người sẽ trải qua cuộc phán xét về những việc mình đã làm, về những gì mình đã sống, và chắc chắn việc thưởng hay phạt, công hay tội đã được quyết định ngay từ giờ phút ấy. Như thế, thì điều cần thiết không phải là tìm biết ngày nào, năm nào là tận thế, mà là biết nhớ đến ngày tận cùng của mình, và những cơ hội cũng như thời gian Chúa cho để sống tốt, làm việc tốt, và nhật ra dấu hiệu và tiếng nói của chúa dành cho riêng mình.
Chúa Giêsu Đấng đã tế lễ cuộc đời mình qua hiến lễ thập giá, đã chiến thắng sự chết và sống lại về trời vinh quang, Ngài đã thánh hóa nhân loại, tẩy rửa tội lỗi nhân loại, những ai được thanh tẩy sẽ được cùng với Ngài bước vào vinh quang nước trời, còn kẻ thù nghịch với Ngài thì sẽ bị đặt làm bệ kê chân, bị khốn khổ muôn đời, đó là điều thư Do Thái đã nhắc lại cho chúng ta.
Thưa quý OBACE, giả dụ ngay ngày hôm nay hay biết chắc ngày mai sẽ là ngày tận thế, thì bạn sẽ làm gì? Khi được hỏi như thế, có người trả lời tôi sẽ tổ chức ăn uống vui chơi để chờ đợi biến cố đó, có người thì nói: tôi sẽ vào nhà thờ đọc kinh cầu nguyện, người khác thì đi mua sắm một số đồ dùng cần thiết cho gia đình để có thể sống sót, người khác nữa thì sẽ đi thăm gia đình và nói lời từ giã với người thân. Cậu Đaminh Saviô cũng từng được hỏi, giả dụ con đang học bài mà giờ tận thế đến, con sẽ làm gì? Cậu trả lời: Thưa cha, con vẫn tiếp tục học bài. Đây là một câu trả lời dũng cảm được cha Gioan Bosco khen là rất đúng. Vì một khi chúng ta đã có một tâm hồn sẵn sàng thì còn gì phải băn khoăn, khi chúng ta đã yêu thương hết mình thì không còn gì phải nuối tiếc.
Sống tốt phút giây hiện tại và làm thật tốt công việc hiện tại đó là cách tốt nhất để chúng ta chuẩn bị cho ngày Chúa đến. Trước hết là một người Tín hữu chúng ta chu toàn bổn phận đối với Chúa đó là bổn phận thờ phượng tôn kính Thiên Chúa, tuân giữ giới răn lề luật mỗi ngày; kế đến là một thành viên trong cộng đòan Giáo Hội, mà giáo hội cụ thể nhất là giáo xứ, hãy chu toàn bổn phận của mình là một thành viên có trách nhiệm, không thể sống dửng dưng ơ hờ, vì Thiên Chúa muốn chúng ta thành một dân của Ngài chứ không chỉ là một cá thể, vì thế đừng biến mình trở thành kẻ xa lạ với cộng đoàn giáo xứ, hoặc chỉ ghép tạm thời như một miếng thịt thừa trên cơ thể cộng đoàn.
Sống tốt phút giây hiện tại là gì? Là người sống trong đời hôn nhân gia đình, hãy sống tốt và chu toàn một cách tốt đẹp trách nhiệm làm vợ làm chồng, hãy là một người chống có trách nhiệm, là người mẹ đảm đang chuyên cần, hãy là một người cha độ lượng, làm trụ cột cho gia đình, là người mẹ đạo đức tạo nên nếp sống tốt cho gia đình và vun đắp cho gia đình mỗi ngày nên ấm cúng thuận hòa, xây dựng cho gia đình và con cái có một nền tảng đạo đức. Là những người con hãy chu toàn bổn phận thảo hiếu, tôn kính mến yêu mẹ cha, đem lại niềm vui và sự thuận hòa cho gia đình.
Ngày tận thế đến, chúng ta sẽ phải làm gì nữa? Hãy là những công dân tốt trong xã hội, góp phần làm cho xã hội thêm công bằng, nhân ái, hãy là những công nhân tốt ở nơi xí nghiệp, cần mẫn với công việc, ngay thẳng thật thà trong cách sống, yêu thương vui vẻ trong các mối tương quan. Là các bạn trẻ sinh viên học sinh, hãy sống cho xứng đáng là những bạn trẻ, sinh viên công giáo, chuyên chăm học tập và làm việc, làm những việc giúp ích cho nhau cho gia đình và xã hội, đừng để phí thì giờ vào những chuyện vô bổ.
Khi mỗi người sống như thế là chúng ta đang chuẩn bị cho ngày tận thế, và chúng ta không phải sợ hãi dù ngày ấy xảy ra ngay hôm nay hay ngày mai thì chúng ta cũng đã sẵn sàng đón Chúa với công việc bổn phận thường ngày của mình. Amen
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
NHỮNG CON NGƯỜI SỐNG VÌ ĐẠO, VUI VÌ ĐẠO VÀ CHẾT VÌ ĐẠO
Kính thưa quý OBACE, ngày 11/10 vừa qua Giáo Hội long trọng khai mạc Năm Đức Tin, với sự kiện này, Đức Thánh Cha mời gọi mỗi người tái khẳng định niềm tin của mình, để biết mình đang tin vào ai, tại sao mình tin, và niềm tin ấy đem lại gì cho chúng ta? Kế đến mời gọi mỗi người khi đã xác tin về niềm tin của mình thì cũng dám sống cho đến cùng chọn lựa tin của mình, không chỉ sống một cách hời hợt, nhưng phải sống một cách sống động đức tin ấy, và trở thành người loan truyền niềm tin đó cho mọi người xung quanh.
Mừng lễ Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam trong bối cảnh của Năm Đức Tin, chúng ta tự hào và hãnh diện với thế giới về cha ông của chúng ta, quả thực các Ngài là những bậc anh hùng, những con người trổi vượt trong sự kiên trung với đức tin. Chúng ta có thể nhìn thấy tấm gương sống đức tin ở nơi tổ tiên cha ông chúng ta, những con người dám SỐNG VÌ TIN, VUI VÌ TIN VÀ DÁM CHẾT VÌ TIN.
Có lẽ khi nói đến các vị thánh tử đạo, chúng ta thường chỉ nghĩ đến những cuộc hành hình ghê rợn mà các Ngài đã trải qua, mà quên rằng, trước khi tử đạo, họ đã là những con người dám sống vì đức tin của mình, điều đó đã làm nên sự anh hùng của các Ngài. Chúng ta cứ thử hình dung trong xã hội lúc đó, đạo Chúa còn rất xa lạ và bị nghi kỵ, những người theo đạo bị coi như công dân hạng hai, là những kẻ nguy hiểm, và xã hội lúc ấy họ chụp lên đầu những người theo đạo là những người theo tây. Thực sư các vị này không hề theo tây, họ chỉ theo Chúa mà thôi, và vì theo Chúa, họ dám sống khác với mọi người, chấp nhận bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử, bị người ta khắc lên mặt hai chữ tà đạo để cho mọi người khi nhìn thấy thì phải dè chừng… thế mà cha ông chúng ta vẫn cứ cố gắng sống thật tốt, sống tha thứ quảng đại với những người khinh rẻ mình ức hiếp mình, người ta còn vu cáo cho những người có đạo là những kẻ ăn thịt trẻ con, bất hiếu bất trung, vậy mà những người tin hữu vẫn cứ gắn bó với xã hội và gắn bó với nhau, tha thứ và đón nhận, thông cảm và chia sẻ, để đến độ, nhiều người lúc ấy chẳng biết gọi họ là gì nên đã gọi họ là “bọn người theo đạo thương nhau”.
Bị vua Chúa, người đời quan quyền nghi kị dè chừng, thế nhưng cha ông chúng ta vẫn cứ chu toàn bổn phận là người dân trong đất nước, chăm chỉ làm ăn, và tối đến họ lại tụ tập để đọc kinh lần hạt…, trong tất cả các vị tử đạo, khi bị tra hỏi các Ngài vẫn một mực tuyên bố trung thành với vua, và còn tuyệt đối trung thành với vua trên trời mà chúng tôi gọi là đức Chúa Trời. Tất cả những cách sống ấy, nếu là một người thường sẽ khó có thể chấp nhận, nhưng các Ngài đã sống và cân bằng được cuộc sống của mình giữa các nghịch cảnh như thế, là vì các Ngài có một đức tin kiên trung, hoặc nói theo ngôn ngữ ngày nay đó là các Ngài đã dám sống đến cùng những đòi hỏi của đức tin.
Các vị tử đạo đã không kéo lê hoàn cảng sống khó khăn của thời ấy, song họ còn sống đức tin với một niềm vui hân hoan, lạc quan tin tưởng. Thông thường khi bị thử thách, bị tàn sát như thế, hằng ngày nhìn thấy anh em đồng đạo của mình bị bắt bớ hành hạ tù đày giết chóc như vậy, không làm cho họ buồn sầu hay bi quan, song vì tin nên các thế hệ tổ tiên của chúng ta vẫn sống vui và sống đầy tràn tình yêu thương trong hòan cảnh của mình. Sống vui và luôn nở nụ cười thay vì vì khóc lóc than van, đó là điều các Ngài đã thể hiện khi gặp gỡ nhau dù ở các gia đình hay nơi lao tù, thì các Ngài vẫn cứ vui với bổn phận của mình giúp đỡ và động viên nhau, an ủi các bạn tù. Nhiều người khi cổ đeo gông, tay chân mang xiềng mà vẫn nở nụ cười và chào hỏi những người đi xem mình hành hình, và vui vẻ với những người hành hạ mình, vì biết rằng những người hành hạ mình, họ phải làm vì bổn phận mà thôi. Sống và giữ được một tâm hồn vui tươi thanh thản như thế phải chăng vì Tin Mừng thật sự đã thấm sâu vào trong cuộc đời các Ngài, và Tin Mừng đã thực sư trở thành niềm vui và hy vọng cho các Ngài, mà những người từ chối Tin Mừng sẽ không thể nào cảm nhận được niềm vui ấy. Các Ngài vui vì các Ngài được chịu đau khổ vì danh Chúa Kitô và cùng với Chúa Kitô, các Ngài vui vì các Ngài đã nhìn thấy triều thiên Chúa hứa cho những kẻ trung thành, và vì thế, ước ao được tử đạo là ước ai của các tin hửu thời ấy.
Khi đã dám sống vì niềm tin, vui vì niềm tin thì các vị tử đạo cũng sẵn sàng chết vì niềm tin của mình. Các bản án mà vua chúa lúc ấy kết án các Ngài là vì các Ngài không chấp nhận chà đạp lên thập giá của Đức Giêsu, và cũng không vị nào bị kết án vì tội danh phản quốc cả, mà chỉ có một tội duy nhất là bất tuân lệnh vua, không bỏ Thiên Chúa. Các vua quan thời ấy cũng đã nghĩ ra đủ mọi cự hình để hành hạ các Ngài để làm nhụt chí các bậc anh hùng, nhưng họ đều thất bại, vì tất cả các cực hình càng ghê rợn bao nhiều lại càng làm cho các Ngài thêm vững tin mà thôi. Dĩ nhiên cũng có một vài vị vì quá sợ hãi nên đã đầu hàng với cực hình, nhưng liền sau đó, họ lại được ơn cản đảm để xác tín lại niềm tin của mình và chấp nhận đánh đổi sự giàu sanh, hứa hẹn bổng lộc để chọn cái chết, để minh chứng đến cùng lòng tín trung vào Thiên Chúa, vì Các Ngài đã xác tin rằng: Có Thiên Chúa bênh vực chúng ta thì không ai có làm gì được chúng ta…và không ai có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô, cho dù là gian truân ngục tù bắt bớ.
Thưa quý OBACE, tin Chúa, theo Chúa, không phải là để sống một cuộc sống dễ dãi, nhưng là chấp nhận đáp lại một đòi hỏi quyết liệt đó là đòi chúng ta phải dám sống đến cùng đức tin của mình, sống vui với chọn lựa của mình, tuyên xưng niềm tin và dám liều cả mạng sống vì niềm tin ấy. Ngày xưa thời Maccabe, vì trung thành với lề luật của Thiên Chúa và các truyền thồng tốt đẹp của cha ông, mà bao người cũng đã phải đầu rơi máu chảy, thì ngày ngay, vì Đức Giêsu, cũng đã có bao lớp người đã ngã xuống, chấp nhận trở nên những hạt mầm đem đến mùa gặt đức tin cho chúng ta hôm nay.
Ngày hôm nay sẽ không còn cảnh đầu rơi máu chảy, nhưng vì danh Đức Giêsu mà vẫn còn những tín hữu ở nhiều nơi nhiều quốc gia đang trải qua những cuộc bắt bớ tù đày, nghi kỵ, loại trừ, nhiều người đang bị người đời coi thường và đề phòng, bởi vì thế gian và xã hội họ ghét Đức Giêsu và họ thù nghịch với Tin Mừng của Ngài thì cũng thù nghịch với những người tin Đức Giêsu. Như vậy thì ngày hôm nay khi mỗi người tín hữu thực sự sống vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng của Ngai, thì cũng được coi như những người đang chịu tử đạo mỗi ngày và đang là những con người anh hùng của ngày hôm nay.
Cũng giống như tổ tiên cha ông, chúng ta cũng phải dám sống vì đạo, vui vì đạo và dám chết vì đạo- Nói như thế có vẻ dễ nhưng trong thực tế thì không dể chút nào. Nhiều người không bị xiềng xích bởi gông cùm, nhưng bị xiềng xích của tiền bạc, của quyền lợi và tiếng tăm trói buộc thì đã quỵ ngã đã chối bỏ đức tin và cách sống của Tin Mừng, để sống theo lối sống của dân ngoại, của những kẻ vô tín vô thần. Hãy sống đạo không chỉ trong nhà thờ, cũng đừng chỉ mang danh là người có đạo mà hãy dám sống đức tin của mình ngay trong gia đình bằng việc tạo nên nếp sống đạo đức cho gia đình và con cái, hãy làm gia tăng niềm vui của Tin Mừng trong gia đình bằng tình bác ái tình yêu thương và sự chia sẻ hòa thuận. Đừng để mình gục ngã hay buồn sầu vì những thử thách của cuộc sống, và không thể để mình rơi vào thất vọng buồn chán như những người không có niềm tin, nhưng hãy dám vì đức tin mà chấp nhật thiệt thòi, gạt bỏ gian lận cũng những cách sống lỗi đức bác ái và giới răn yêu thương.
Ngày nay người ta không ép chúng ta chà đạp lên thập giá, nhưng qua cách sống nhiều bạn trẻ đang chà đạp lên Đức Giêsu và thập giá của Ngài khi họ lao vào cuộc sống buông thả chơi bời, cuộc sống không mục đích không lý tưởng, không phục vụ. Nhiều người trẻ đang bị cuốn hút bởi quyền lực tiền bạc, danh vọng, nên họ sẵn sàng cúi đầu khất phục tội lỗi và ma quỷ cùng những bè lũ của nó, và tự mình hủy hoại danh Kitô hữu nơi mình; Nhiều người khác đã hòa mình với xã hội đến độ bị tan biến trong đó, đã đánh mất chính mình và không biết mình là ai, và cũng không biết Thiên Chúa của mình là ai.
Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin cho dòng máu tín trung, dòng máu anh hùng, sức sống của Tin Mừng, luân chuyển trong chúng ta và nuôi dưỡng đời sống đức tin của chúng ta. Amen
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
VÂNG Ý CHA DƯỚI ÐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI
William Barlay, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng người Anh đề nghị sửa một dấu trong Kinh "Lạy Cha" như sau: Giữa những câu "chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến" và câu "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" thay vì dấu phết hay dấu chấm phết nên dùng dấu hai chấm, để nêu bật ý nghĩa: Nếu chúng ta vâng theo ý Chúa dưới đất ý Chúa được vâng phục trên trời thì chúng ta sẽ làm cho: danh Chúa cả sáng và Nước Chúa được thống trị mọi nơi.
Ðề nghị trên nhằm mục đích nhấn mạnh sứ mệnh xây dựng Nước Trời giữa lòng xã hội trần thế bằng cách hoàn toàn vâng theo ý Chúa của các tín hữu Kitô.
Bởi lẽ đây là một trong những nội dung quan trọng nhất của sứ điệp Chúa Giêsu rao giảng và cũng là mẫu gương nổi bật nhất trong cuộc đời của Ngài.
"Ai vâng theo ý Cha Ta ở trên trời thì kẻ ấy là anh em Ta, là chị em Ta và là Mẹ Ta".
Tuyên bố câu này, Chúa Giêsu không có ý khước từ mối dây liên lạc và tình mẫu tử giữa Ngài với Ðức Maria. Nhưng Ngài muốn nêu bật một thực tại: Ðức Maria đã trở nên Mẹ Ngài qua câu trả lời: "Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền" và trong suốt cuộc đời, Ðức Maria đã trung tín giữ trọn lời thưa xin vâng này đến giây phút đứng dưới chân thập giá.
Mừng Lễ Ðức Mẹ dâng mình vào đền thánh, không gì chúng ta có thể làm đẹp lòng Mẹ hơn là học cùng Mẹ để bập bẹ thưa: "Xin vâng!".
Tác giả Veritas
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




