Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phóng sự ký sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phóng sự ký sự. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 4, 2012

Tình cha

TT - Dưới cái nắng gay gắt của trời Sài Gòn, một người đàn ông đội mũ cối đặc trưng của miền Bắc vẫn lặng lẽ đạp chiếc xe đạp cũ kỹ qua khắp hang cùng ngõ hẻm. Ròng rã gần ba năm nay, ông vẫn đạp xe như vậy để lượm ve chai nuôi con trai học ĐH.

Dù vất vả nhưng nhìn con trưởng thành, ông Định luôn cảm thấy hạnh phúc- Ảnh: ĐÌNH DÂN


Ông tên Bùi Minh Định, quê ở xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Năm 2009, con trai ông là Bùi Minh Công nhận được giấy báo trúng tuyển vào khoa kinh tế vận tải biển Đại học Giao thông vận tải TP.HCM cũng là lúc ông cùng con khăn gói rời quê nhà.
Đến TP.HCM, hai cha con thuê được một căn phòng trọ nhỏ giá 800.000 đồng/tháng ở đường Phan Huy Ích, P.12, Q.Gò Vấp. Vừa ổn định chỗ ở, ông Định mua lại chiếc xe đạp cũ với giá 100.000 đồng ở vựa ve chai. Thế là ngày ngày người con trai vào giảng đường, còn ông bố đầu điểm hoa râm lại lặng lẽ đi lượm ve chai bán để kiếm tiền nuôi con ăn học.
Quệt mồ hôi nhễ nhại trên mặt, ông kể: “Dựa vào mấy sào ruộng ở quê thì không đủ tiền gửi cho con ăn học ở TP này nên tôi đành vào đây để kiếm thêm chút đỉnh. Vô đây gần con nên không chỉ lo cho con tiền ăn ở, học tập mà khi nó ốm đau hay có chuyện buồn thì mình cũng có bên cạnh. Chỉ lo nhất là khi tôi đi rồi, mấy sào ruộng ngoài quê giao lại cho vợ và đứa con gái”.
Những người cùng xóm trọ kể: thấy ông Định ngày ngày vất vả đạp xe lượm ve chai nên con ông lẳng lặng đi làm bưng bê cho một quán phở để phụ cha. Biết chuyện, ông Định buồn lắm vì lo ảnh hưởng đến việc học của con. Sắp đến mùa học căng thẳng của con, ông không cho con phụ ở quán phở nữa, mà ông đi lượm ve chai thêm cả ban đêm. Ông không nhớ nổi mình đã đi bao nhiêu vòng xe, qua bao nhiêu con phố, góc đường nhưng ông biết mình luôn ở bên con trong mỗi bước trưởng thành.
Nghĩ về người cha lặn lội ngày đêm, Công nói: “Em thương cha lắm nên chỉ biết ráng học thật tốt để khỏi phụ lòng cha. Những ngày vào học ở Sài Gòn có cha luôn ở bên cạnh nên em có động lực và niềm tin hơn rất nhiều”.
Mặt trời chếch dần về phía tây, ông Định cũng đạp xe quay trở về vựa ve chai để bán thành quả sau một ngày lượm lặt. Ông khoe ngày hôm nay kiếm được hơn 100.000 đồng, chứ có nhiều ngày chẳng lượm được bao nhiêu. Cầm những đồng tiền đầy mồ hôi, bụi đường, ông lại dắt xe rời khỏi vựa ve chai. Ông tranh thủ về phòng trọ để nấu cơm cho con trai sắp đi học về. Một bữa tối của cha con người tha hương lại bắt đầu trong gian phòng trọ. 
ĐÌNH DÂN

27 tháng 3, 2012

Nhà Hi Vọng

TT - Nhà Hi Vọng, một trong những căn nhà nhỏ của chương trình Thảo Đàn - nơi cô Thảo đang phụ trách chăm sóc, giáo dục trẻ nghiện ma túy và nhiễm HIV. Tôi xin tự nguyện về để giúp các em cai nghiện ma túy.
 Từ ba em cũ, tôi đi tiếp cận đưa về thêm bốn em và phát triển thêm nhà Bình Chánh dành cho trẻ nữ. Chúng tôi cùng ăn, cùng ở với các em như một gia đình thực thụ.

Chị Tâm với đám trẻ con em những phụ nữ ở khu Gò Mả Lạng, TP.HCM - Ảnh: CTV


Tập làm mẹ
Nhật sử dụng ma túy nặng “đô” nên khi cai nghiện cho em cả nhà rất cực. Mọi người thay phiên thức canh cho Nhật. Sau một tháng cai, Nhật lên cân thấy rõ, sức khỏe hồi phục. Nhật xin phép rời nhà, tôi đồng ý vì em quá lớn tuổi so với quy định. Nhật hồi gia nhưng tôi vẫn thường xuyên ghé nhà em để động viên.
Cuối cùng, Nhật đi làm nghề biển, theo tàu cá đánh bắt xa bờ. Thỉnh thoảng em vẫn ghé nhà Hi Vọng, còn mua quà cho các em. Không riêng gì gia đình em mà cả chính quyền địa phương nơi em cư trú đều mừng cho sự thay đổi này, bởi em từng là đàn anh của một băng đảng chuyên đi cướp giật.
Sau Nhật còn nhiều em khác nhập nhà Hi Vọng để cai nghiện ma túy. Công tác giáo dục, giúp đỡ các em cai nghiện ma túy không dễ chút nào, lại càng khó khi các em biết mình bị nhiễm HIV/AIDS. Tâm sinh lý của các em luôn luôn thay đổi, vui buồn lẫn lộn, việc tái sử dụng ma túy khó
tránh khỏi. Nếu giáo dục viên phụ trách không phát hiện được hiện tượng “phê” của các em thì coi như hỏng việc. Muốn tập cho các em quen với cuộc sống gia đình, tôi phải quên đi sở thích cá nhân để sống với các em như một gia đình thật sự.
Vất vả cai nghiện rồi, còn phải chuẩn bị cho các em kế sinh nhai để sau này tự lập. Tôi đi tìm trường dạy nghề xin cho các em học. Ngay cả việc này cũng khó khăn bởi các em có HIV, không ai muốn nhận. Cuối cùng tôi cũng xin được một chỗ. Mạnh, Huy, Nguyên, Toàn học sửa xe gắn máy, Bình học điện lạnh. Nhà trường cho ở trọ miễn phí, nhưng các em phải đóng tiền cơm, mỗi em 10.000 đồng/tuần.
Trường dạy nghề cũng mang tên Hi Vọng, ở tận Thủ Đức rất xa. Các em được ăn ở tại trường, cuối tuần về thăm nhà. Qua sáu tháng học tập, đa số đã nhận được chứng chỉ học nghề.
Thầy Linh về nhà Hi Vọng cùng tôi phụ trách, chăm sóc, giáo dục các em. Hình ảnh ngồi xe lăn của thầy, tinh thần và nghị lực của thầy đã tác động đến các em rất nhiều. Các em nhận ra một điều: thầy như vậy mà còn vượt qua được những khiếm khuyết của thân thể. Thầy dạy đàn, tiếng Anh, hội họa, vi tính, các em bắt đầu đua nhau học tập.
Nhờ có thầy, tôi có được thời gian rảnh đi ra ngoài tiếp cận và giúp đỡ những em ngoài đường phố. Tôi tiếp cận và giúp những em nữ vào nhà mở để các em không còn cảnh kiếm sống bằng nghề “đi khách”. Tôi giúp các em ở độ tuổi 20-23 cai nghiện ma túy, thuốc cai nghiện mua của bác sĩ Tiến với giá rẻ. Những em ở độ tuổi dưới 18, tôi đưa về giúp các em cai tại nhà Hi Vọng.
Tôi còn đi tiếp cận trên đường phố, chăm sóc cho bệnh nhân AIDS vào giai đoạn cuối tại cộng đồng. Không thể làm ngơ vì người bệnh cần sự hướng dẫn chăm sóc, nhiều bệnh nhân tuổi đời còn quá trẻ...
Tôi tự nhủ phải luôn sống thật tốt, sống để trả nợ đời, để trả ơn những ân nhân đã cưu mang đùm bọc tôi suốt mười mấy năm qua. Mỗi ngày tôi đều phải học, học từ người lớn đến các em nhỏ những điều hay lẽ phải, để tôi có thể nuôi dạy các con cho tốt. Người ta đến trường để học lấy con chữ, học kiến thức, còn tôi tìm đến mọi người để học cách yêu thương con người, học cách sẻ chia và giúp đỡ những mảnh đời khốn khó như mình.
Hi vọng và hi vọng
Năm 2009, tôi bị tai nạn giao thông và tình cờ phát hiện mình đang mắc căn bệnh nan y. Tinh thần tôi suy sụp, cơ thể gần như không còn sự sống, người gầy rạc đi.
Đúng lúc này quanh tôi không còn ai. Những đứa con trai lớn đã lập gia đình và ra riêng. Có đứa về bên cha, mẹ ruột ở rất xa, có đứa ra đi về bên kia thế giới với căn bệnh AIDS giai đoạn cuối. Chỉ còn những đứa bé chưa biết an ủi, chưa biết chăm sóc cho tôi. Ngược lại tôi phải lê tấm thân bệnh hoạn lo chợ búa, cơm nước cho bọn trẻ.
Nhưng tôi lại có những người bạn yêu thương. Khi biết tinh thần tôi tuột dốc, các bạn sát cánh động viên, lo tiền nong, thuốc men, trị bệnh... Mỗi người giúp một chút, gần bốn tháng trời tôi mới dần dần lấy lại tinh thần. Những quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ của các anh, chị, em, bạn bè thân hữu đã vực tôi dậy, giúp tôi vượt qua những ngày khó khăn, khiến tôi ấm lòng.
Rồi những câu nói thơ ngây của các bé nhỏ, những lần về thăm của các con lớn, những cú điện thoại của những đứa con đang ở xa... tất cả như tiếp cho tôi thêm nghị lực. Tôi lại thấy mình dạt dào hạnh phúc, lại đứng lên làm nhiệm vụ người mẹ ở nhà Hi Vọng.
Tôi quan niệm con người ta dù có giàu sang đến đâu, khi nhắm mắt lìa trần cũng chẳng mang được thứ gì. Thế thì tại sao khi còn sống ta không sẻ chia những gì ta có dù là ít ỏi. Và tôi san sẻ yêu thương cho tất cả những đứa trẻ bất hạnh mà tôi biết.
Khi các con nói: “Má Tâm ơi, con thích cái này. Má Tâm ơi con thích cái kia!”, có tiền là tôi mua ngay cho chúng. Hôm nay mua cho đứa này, ngày mai mua cho đứa kia chứ không thể nào đủ tiền mua một lần cho tất cả các con - những đứa con ở trong nhà và những đứa con trên hè phố. Mỗi món quà là một niềm vui.
Tôi cố gắng dành dụm, chắt chiu số tiền lương ít ỏi làm vốn buôn bán, mơ ước có một số vốn đủ mở một tiệm tạp hóa hoặc mở quán cơm xã hội để có thể giúp được những người cùng cảnh nghèo khó như tôi, lại có thể tự nuôi thân và nuôi các con mình. Tôi còn mơ ước có được một căn nhà nhỏ, một mai tôi có đi về nơi xa thì vẫn còn có căn nhà dành cho các con bé bỏng của tôi tá túc, có chốn đi về.
Các bé con của tôi nay bệnh mai đau. Mọi thứ đều phải lo toan, tôi vừa là cha vừa là mẹ của chúng. Tôi phải lo cho các con của mình có được một tinh thần lạc quan, hồn nhiên của tuổi thơ, phải lo dinh dưỡng đủ đầy, lo cho uống thuốc đúng giờ để kéo dài cuộc sống. Những đứa lớn trưởng thành, ra riêng cũng thường xuyên bệnh - chúng đều nhiễm HIV. Vậy là số tiền ít ỏi lại đội nón ra đi, tay trắng vẫn hoàn tay trắng.
Hi Vọng của tôi thật xa vời, nhưng tôi vẫn cứ hi vọng vì tương lai và hạnh phúc các con của mình. Hi Vọng để tiếp tục sống, để tiếp tục yêu thương. Tôi đã nhìn thấy được tình yêu thương của các anh, chị, cô, bác và các con dành cho mình.
Với tôi như thế là quá đủ, đủ để đi nốt quãng đời còn lại. Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu thơ của một người nào đó viết mà tôi không nhớ tên: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”. Quả không sai chút nào đối với tôi!
TRƯƠNG THỊ HỒNG TÂM

22 tháng 3, 2012

Trà đá miễn phí giữa Sài Gòn

     Vài năm trở lại đây, đều đặn mỗi ngày từ sáng sớm đến tối mịt, có một số người tốt bụng ở TP.HCM đã lặng lẽ đặt những thùng “trà đá miễn phí” cạnh lề đường, giúp nhiều người qua lại có nước dùng khi khát.
     Ở TP.HCM, nếu không bị... tối mắt bởi những dòng xe máy kìn kịt và muôn vàn âm thanh hỗn độn giữa phố, thi thoảng ta sẽ bắt gặp ở đây đó những hình ảnh rất đẹp nằm ngay cạnh mình. Đó có thể là một anh thanh niên đang dìu một cụ già qua đường, ngay trước “mũi” những chiếc xe máy đang vội vã lao đi trong giờ tan tầm. Cũng có thể đó là một người đàn ông mặc quần cụt cầm cây gậy đứng giữa ngã tư đường vãn hồi trật tự vì kẹt xe.
Hoặc là một bạn sinh viên vội đứng lên nhường chỗ ngồi cho một phụ nữ mang thai vừa bước lên xe buýt. Kỳ công hơn, bạn sẽ thấy trên báo chuyện một chị công nhân, hay một anh tài xế taxi trả lại của rơi cho người đi đường sau khi nhặt được mà không nảy lòng tham. Những hình ảnh đó mang tính “di động”. Có một hình ảnh khác rất đẹp lại nằm yên một chỗ. Đó là những thùng “trà đá miễn phí” bình dị.


Một chị mua ve chai ghé uống nước trước số nhà 61-63 Điện Biên Phủ, P.Đa Kao, Q.1 - Ảnh: Bùi Chiến

Chủ nhân những thùng trà đá hầu hết chẳng giàu sang gì, và cũng rất ngại nêu tên vì theo họ thì việc làm này “chẳng có gì để nói”. Như chủ thùng trà đá miễn phí trước số 130 Xô Viết Nghệ Tĩnh (P.21, Q.Bình Thạnh) chẳng hạn. Dù tôi đã hỏi thăm nhiều người buôn bán gần đó, nhưng ai cũng bảo “người ta không thích nêu tên đâu, chú có biết cũng đừng có nói”.
Thế cho nên, “lý lịch” của thùng trà đá này coi như... không có. Chỉ biết đều đặn suốt ba năm nay, bất kể trời nắng hay mưa, cứ mỗi sáng sớm đã có người mang một thùng xốp khá to với dòng chữ “trà đá miễn phí” đặt trên chân đế bằng gỗ vững chắc kê ngay lề đường này rồi. Có lẽ sợ đổ ngã nên người chủ dùng thêm dây ràng buộc cẩn thận tứ bề và sắm một ca bằng inox luôn sạch để ai cũng thấy an tâm mỗi khi sử dụng. Những người ghé vào đây uống nước đủ thành phần, hầu hết là các chị ve chai, bán hàng rong, bác xích lô, các em học sinh, sinh viên hay những người quét rác.
Chủ nhân của thùng trà đá gần ngã ba Võ Văn Tần - Trần Quốc Thảo (P.6, Q.3) cũng không có thông tin gì nhiều. Một anh bán hàng cạnh đó chỉ cho biết đó là một phụ nữ tên Bốn, bán nước giải khát sống qua ngày. “Hổm rày chị nuôi người nhà bị bệnh nên cho người mang nước ra đây thôi chứ chị không ghé”, anh bán hàng này cho biết thêm khi tôi hỏi thăm về chị.


Chị Ly đang thêm trà đá vào bình để “tiếp sức” cho người đi đường - Ảnh: Bùi Chiến

Với thùng trà đá ở trước số nhà 61- 63 Điện Biên Phủ (P.Đa Kao, Q.1) cũng vậy. Phải thuyết phục mãi, chị Ly, người bán hàng ở đây mới cho biết chủ nhân thật sự là bà Hương, mẹ chồng chị. Thấy tôi ngạc nhiên trước thùng trà đá bằng inox bóng loáng cỡ 50 lít và ba, bốn cái ca còn mới, chị Ly vui vẻ: “Mẹ em mới lên đời cho nó từ tết tới nay đó. Hồi trước xài bình nhựa nhưng thấy cứ hư hoài nên má kêu tụi em góp tiền mua thùng inox cho tiện và đảm bảo vệ sinh nữa”. Xoay quanh câu chuyện về thùng trà đá này, tôi mới phần nào hiểu tấm lòng của những người “mời nước thiên hạ” ấy.
Chị Ly kể, gần 5 năm nay rồi, mỗi ngày cứ sau 9-10 giờ đêm, khi không còn khách ghé uống nước nữa thì nhà chị mới mang thùng đi chùi rửa. Bà Hương lại thức đêm nấu nước sôi rồi để nguội. Độ 5 giờ rưỡi sáng hôm sau, bà Hương hoặc chị Ly thức dậy pha trà, bỏ thêm củ gừng tươi, rửa đá thật sạch cho vào thùng, đưa ra trước cửa nhà cho kịp lúc những người đi làm sớm ghé lấy nước uống. Bình quân mỗi ngày bà con “tiêu thụ” hết 1 thùng (khoảng 50 lít), ngày nắng nóng có khi hết cả 2 hoặc 3 thùng. “Thấy bà con ghé uống nước tụi em vui lắm, mình mời ly nước uống đỡ khát chứ có to tát gì đâu”, chị Ly tâm sự.
Cũng bằng tấm lòng như vậy, chị Cẩm Loan ở đường Hùng Vương (P.1, Q.10) thức dậy từ 5 giờ sáng đưa thùng nước tinh khiết mua ở đại lý ra trước cửa nhà mời mọi người đi đường dùng. Chị nói: “Trước đây tui nấu nước sôi để nguội đổ vào thùng, nhưng lâu ngày sợ mình chùi bình không sạch, lo mọi người đau bụng nên bây giờ mua nước tinh khiết cho chắc ăn. Thà tốn chút ít mà trọn tấm lòng với bà con”.
Vào những ngày nắng nóng như thiêu đốt vừa qua, không khó để chứng kiến những người bán vé số dạo, những anh chị ve chai hoặc những cô dì buôn thúng bán bưng ghé vào uống ngụm trà đá miễn phí ở những nơi này. Và họ cảm nhận được cái tình người đong đầy trong từng ly nước ấy.
Mong sao ngày càng có nhiều những thùng trà đá “tình thương mến thương” này, để đời thêm vui vì những người tốt đã cùng tiếp sức và sẻ chia với những đôi chân đang còn nhọc nhằn mưu sinh giữa chốn phồn hoa đô hội.
Bùi Chiến

18 tháng 2, 2012

Lội bùn lầy đến trường

TT - Ngược TP Đông Hà (Quảng Trị) về phía tây hơn 120km, thôn Trầm (xã Pa Nang, huyện ĐaKrông, Quảng Trị) ở độ cao 1.500m giữa trùng điệp Trường Sơn vào những ngày đầu năm. Ở đây, cô và trò phải dắt tay nhau lội bùn gần một giờ trong mưa và sương mù dày đặc mỗi ngày mới đến được lớp học.

Em Hồ Thị Nghì, học sinh lớp 3, lấm lem bùn đất trên đường đến trường - Ảnh: Ngọc Hiển


Men theo sườn núi cheo leo trong sương mù dày đặc, con đường đến lớp chừng 3km nhầy nhụa bùn đất bên vực thẳm. Đất ở đây chủ yếu là đất sét nên khi mưa xuống nhão ra rất trơn, nhiều đoạn lún cả gang tay khiến việc đến trường của học sinh và giáo viên càng trở nên nguy hiểm.
Cô giáo Nguyễn Thị Ánh Tuyết cho biết muốn đi lại được trên đường bùn lầy, cách duy nhất là phải mang giày bốt, năm ngoái trên đoạn đường này đã có năm thầy cô của trường trượt ngã cả người và xe máy xuống vực. Còn cách đây ít ngày, trên đường từ quốc lộ 9 vào trường, cũng do đường trơn và gồ ghề nên bốn cô giáo bị ngã xe máy, rất may chỉ bị trầy xước chân tay.
Hồ Văn Mỳ năm nay mới học lớp 4 nhưng ngày nào cũng phải mang giày bốt lội bùn, lưng cõng em gái Hồ Thị Y Ly đang học mẫu giáo nhỡ và dắt theo hai em nữa đi bộ gần một giờ để đến lớp. “Ngày mô em lên rẫy sớm cùng ba mẹ thì em gái Hồ Thị Nghì sẽ thay em cõng Y Ly đến trường, Nghì năm nay học lớp 3” - Mỳ kể.
Dưới trời mưa rét, những “đội quân mang bốt” vẫn miệt mài lội bùn đến trường mỗi ngày, nhiều em trượt ngã, đến được lớp học thì áo quần, cặp sách lấm lem bùn đất. “Những tấm phên tre đơn sơ bao quanh lớp học không đủ kín để che gió, che mưa cho các em. Chỉ thương học trò ngồi học mà mưa tạt vào bàn, gió rét luồn vào lạnh như cắt da cắt thịt” - cô giáo Lê Thị Ý Nhi cho biết.
Tất cả các em ở đây là người dân tộc Vân Kiều. Cha mẹ chỉ lo làm nương rẫy, quan tâm đến cái ăn cái mặc còn chưa đủ, huống gì đến chuyện học hành của con cái. Ấy vậy mà theo các cô giáo Trường tiểu học Pa Nang, các em đi học rất chuyên cần, từ đầu năm đến giờ không có trường hợp nào bỏ học.“Nhìn hình ảnh các em mẫu giáo, lớp 1, lớp 2 phải mang bốt tự đội mưa lội bùn đến trường mới thấy được sự học ở đây gian nan đến nhường nào” - cô giáo Hoàng Thị Xã tâm sự.
Ông Nguyễn Văn Cường, hiệu trưởng Trường tiểu học Pa Nang, nói các thầy cô giáo và học sinh ở đây đã quá quen với việc lội bùn đến trường vào mùa mưa bởi không riêng thôn Trầm, hầu hết đường đến trường các khu lẻ của xã Pa Nang tại các thôn khác như Cóc, Ngược, Tà Mên, Bù... cũng như vậy.
NGỌC HIỂN

17 tháng 2, 2012

Viếng mộ cha P.X. Trương Bửu Diệp


Tôi đến Gx Tắc Sậy lúc 3 giờ 30 sáng ngày 7-2-2012, nhà thờ còn đóng cổng. Vậy là suốt một đêm thức trắng, có lẽ do háo hức nên không mấy người chợp mắt trên xe, vì đây là lần đầu tiên tôi được đến viếng mộ cha P.X. Trương Bửu Diệp.
Trời còn sớm nhưng các hàng quán đã mở cửa. Tôi tìm một quán cà-phê đối diện nhà thờ Tắc Sậy để vừa uống cà-phê cho tỉnh táo vừa chờ nhà thờ mở cổng lúc 4g.
Thấy đã có vài xe đến trước tôi ít phút. Hỏi thăm thì họ nói từ Chợ Mới (An Giang) và Long Thành (Đồng Nai) tới. Giao tiếp với dân địa phương thấy họ thật chân chất và hiền hòa, chính hiệu “con nai vàng” của bản chất người dân  Nam  bộ miệt vườn.
Đúng 4 giờ sáng, cổng nhà thờ được mở. Mọi người kéo nhau vào viếng mộ cha Diệp. Số người khấn nguyện tại mộ cha Diệp lúc này khoảng 100 người. Tiếng kinh râm ran, khói nhang nghi ngút. Trong số đó thấy có nhiều người ngoại giáo, biết vậy nhờ nhìn cách thắp nhang: hai tay cầm nhang để trên đầu trước trán và lâm râm khấn vái. Một bà hỏi tôi: “Không có trái cây thì cúng tiền được không?”. Tôi hỏi: “Bà có Công giáo không?”. Bà nói: “Không”. Tôi nói: “Không cần trái cây hay tiền bạc gì cả, cứ thành tâm là được. Còn nếu bà muốn dâng cúng thì dâng tiền tốt hơn dâng trái cây”. Bà cười. Tôi hỏi: “Bà ở đâu tới?”. Bà đáp: “Tui ở quận Tư ( Saigon ) tới”. Bà vừa cười vừa cảm ơn tôi và bước đi.
Hai bên phía trước mộ cha Diệp có câu đối còn mang âm hưởng mùa Xuân: “Tết đến, Xuân sang, người nô nức – Năm qua, tuổi tới, Chúa chúc lành”. Không khí Xuân vẫn còn, Chúa Xuân còn mãi. Nhà thờ đã được xây mới hoàn toàn, Đức cố GM Emmanuel Lê Phong Thuận đặt viên đá đầu tiên ngày 24-2-2004. Nhà thờ trông rất hùng vĩ với lối kiến trúc khá ấn tượng. Các bức tượng ở đây đa số bằng gỗ quý, nét điêu khắc tinh vi. Phía trước nhà thờ có câu đối: “Vũ trụ nhiệm mầu, chính đạo bao trùm trời đất – Thiên nhiên kỳ vỹ, ơn lành tỏa khắp thế gian”.
5 giờ sáng bắt đầu giờ phụng vụ. Trước giờ lễ, mọi người đọc kinh Truyền tin rồi cùng đọc kinh Nhật Tụng (kinh của Giáo hội, nhưng thường chỉ có các giáo sĩ và tu sĩ đọc). Có lẽ đây là “nét khác” của Gx Tắc Sậy so với các giáo xứ khác. Đồng tế thánh lễ là LM chính xứ Tắc Sậy và 2 LM hành hương. Số người tham dự thánh lễ khoảng 500 người.
Trời càng sáng, xe tới càng nhiều. Đặc biệt trong số đó thấy có một xe có dán cờ Phật giáo trước xe, họ từ Châu Đốc (An Giang) tới. Trời càng sáng, xe tới càng nhiều. Đặc biệt trong số đó thấy có một xe có dán cờ Phật giáo trước xe, họ từ Châu Đốc (An Giang) tới.
Được biết Gx Tắc Sậy được thành lập năm 1925, hiện nay có khoảng 1.800 giáo dân, tọa lạc tại Ấp 2, Xã Tân Phong, huyện Giá rai, tỉnh Bạc Liêu, thuộc hạt Bạc Liêu (GP Cần Thơ). LM quản xứ hiện nay là G.B. Nguyễn Thanh Bình (sn 1958), và vừa có thêm một LM phụ tá còn trẻ và một phó tế về giúp xứ.
Mỗi ngày Gx Tắc Sậy có 3 thánh lễ. Giờ lễ Chúa nhật: 5 giờ, 7 giờ và 17 giờ. Giờ lễ ngày thường: 5 giờ, 9 giờ và 17 giờ 30. Ngày nào cũng có nhiều đoàn hành hương về viếng mộ cha Diệp, mỗi ngày có đến cả ngàn người.
Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897 tại làng Tấn Đức(nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), được rửa tội ngày 02-02-1897 tại họ đạo Cồn Phước (nay cũng thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang).
Cha ngài là ông Micae Trương Văn Đặng, mę ngài là bà Lucia Lê Thị Thanh. Lúc ngài 7 tuổi (1904) thì mę mất. Cha ngài chuyển gia đình sang Battambang (Campuchia), sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn Thị Phước (sn 1890), cũng quê gốc tại Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu sinh cô con gái tên là Trương Thị Thìn (1913), sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng (thuộc xã Tấn Mỹ, Chợ Mới, An Giang). Học xong tại Tiểu Chủng Viện, ngài lên Đại chủng viện Nam Vang (Campuchia – lúc đó các họ đạo An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh). Năm 1924 , sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới thời Đức cha G.B. Chabalier người Pháp. Lễ vinh quy và tạ ơn được tổ chức ở nhà cô ruột là bà Sáu Nhiều tại họ đạo Cồn Phước.
Từ 1924–1927, ngài được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư (một họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia). Từ năm 1927–1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang.
Tháng 03-1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ và thành lập nhiều họ đạo khác tại các vùng phụ cận như Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.
Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương những năm 1945–1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân di tản, cha bề trên đįa phận Bạc Liêu là Phêrô Trần Minh Ký và cả các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng Ngài trả lời: “Con sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả”.
Ngày 12-03-1946, Ngài bį bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ đạo Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa. Người ta định giết hết tất cả nhưng ngài nói: “Chính tôi là chủ chăn các con chiên đó, vậy tôi xin chết thay cho các con chiên của tôi”. Họ chấp nhận. Mọi người được thả còn ngài bị đem đi thủ tiêu.
Những người trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc trong họ đạo biết xác ngài bị vứt xuống cái ao nhà ông giáo Sự. Người ta đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã bị chặt đầu với một vết chém ngang cổ chổ gần mang tai, có ba vết chém khác trên mình. Không hiểu sao thân xác ngài bị lột hết quần áo, trần trụi như Chúa Giêsu trên Thánh giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.









Các vị  chức sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo (ấp Thành Thưởng A, xã An Trạch, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Thành lập năm 1920, hiện nay có khoảng 570 giáo dân – nhà ông giáo Sự thuộc họ đạo Khúc Tréo), làm vậy kín đáo hơn đưa về Tắc Sậy. Như vậy ngài đã tử vì đạo ngày 12-3-1946, nhằm ngày 9-2 năm Bính Tuất.
23 năm sau (năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy. Trong 16 năm quản xứ Tắc Sậy, cha Diệp đã rửa tội 1643 người.
20 năm sau nữa (năm 1989), mộ ngài được trùng tu thành một ngôi nhà mộ nho nhỏ lợp tôn ở phía sau nhà thờ Tắc Sậy và được khánh thành vào ngày 04/06/1989.
Đầu năm 2010, một ngôi nhà mồ khang trang và hiện đại được xây dựng xong, hài cốt ngài được di chuyển vảo đó với nghi lễ cải táng rất long trọng do Đức cố GM giáo phận Cần Thơ Emmanuel Lê Phong Thuận cử hành. Ngày nào cũng có các tín hữu ở khắp mọi nơi trong nước cũng như ngoài nước, bên lương cũng như bên giáo, tới kính viếng và tin tưởng khấn nguyện với ngài. Rất nhiều người đã được ơn. Trong khuôn viên nhà thờ Tắc Sậy hiện nay thấy có rất nhiều bảng tạ ơn.
Những bức tượng cha Diệp “bị” khách hành hương hàng ngày lấy tay vuốt đến bạc màu tay, bay màu áo. Có nhiều phụ nữ thành kính vừa vuốt vừa nói chuyện lớn như đang đối thoại trực tiếp với ngài vậy. Trong một phòng bên phải nhà thờ còn lưu giữ 2 tấm ván hòm của ngài.


Nói về cha Diệp, ĐGM G.B. Bùi Tuần nhận định: “Tâm lý người Việt  Nam  hôm nay tuy vốn trân trọng những đấng anh hùng, nhưng thích tìm đến những vị lãnh đạo dễ thương. Dễ thương ở chỗ có đời sống bình dị, đơn sơ, gần gũi, biết đưa con người vào chiều kích thiêng liêng bằng những thái độ sống cảm thương và thương xót. Sau khi gặp gỡ với những vị lãnh đạo dễ thương, họ cảm thấy mình được kính trọng, được yêu thương, được hy vọng. Thiết tưởng đó là một khởi đầu tôt cho mục vụ truyền giáo”.
Một nhận xét “thú vị” và cần thiết. Mong sao Giáo hội có những chủ chăn đích thực, xứng đáng là môn đệ của Đức Giêsu Kitô, biết noi gương LM thánh Gioan Vianney và LM P.X. Trương Bửu Diệp.
Hiên nay, Tòa thánh đang mở án phong chân phước cho LM P.X. Trương Bửu Diệp. Xin cho Thánh Ý Chúa nên trọn nơi tôi tớ trung tín Chúa, người đã xả thân vì đoàn chiên Chúa, đúng như Chúa Giêsu xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).
Lạy Chúa, nhờ lời nguyện giúp cầu thay của cha P.X. Trương Bửu Diệp, xin thêm đức Tin, Cậy, Mến để chúng con can đảm làm nhân chứng trên cuộc lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.


Trầm Thiên Thu

18 tháng 1, 2012

Đón xuân xa nhà

TT - “Tết này bọn em không về”, “Về quê mà không có chút quà mang về cho gia đình thì về làm gì hả anh?”... - những điệp khúc đầy ngậm ngùi ấy chúng tôi nghe được rất nhiều khi đi vào các khu trọ của công nhân tại TP.HCM trong những ngày cận tết.

Bé Phạm Gia Hân sẽ đón cái tết đầu tiên của mình ở dãy phòng trọ công nhân cùng bố mẹ. Năm nay không dành dụm được nhiều nên cả gia đình công nhân này không về quê - Ảnh: Đ.Dân


Đẩy chiếc xe đạp vào lối mòn dẫn về dãy phòng trọ tối om, chị Đào Thị Mỹ Trà, công nhân Công ty TNHH Freetrend, Khu chế xuất Linh Trung 1, Q.Thủ Đức, thở dài: “Tiền thuê xe đò ra vào, rồi ăn uống dọc đường về, đến quê cũng phải có món quà cho đằng nội đằng ngoại...”. Chỉ nghĩ đến chừng đó thôi mà vợ chồng chị Trà lại phải đón thêm một mùa tết tha hương nữa.
Quê ở Hà Tĩnh, suốt mười năm vào TP.HCM làm công nhân chị Trà chưa có một cái tết nào được sum vầy bên gia đình. Lương của chị dù tăng ca cật lực mới được vỏn vẹn hơn 4 triệu đồng/tháng, số tiền này so với ngày đầu tiên của mười năm trước chị lãnh chỉ có 626.000 đồng nghe ra thì nhiều, nhưng theo chị chẳng thấm tháp gì với giá cả tăng vùn vụt ngoài chợ.
Nhìn hai đứa con nhỏ đang ngủ say, chị ngậm ngùi: “Điện thoại về nói với bố mẹ là ở lại ăn tết ở Sài Gòn chứ thực chất ở lại cho qua ngày chứ chẳng vui vẻ gì...”.
Chị Nguyễn Thị Nga, công nhân Công ty Danu Vina, cho biết hai năm rồi chị đã không về, năm nay báo tin không về nữa nên bố mẹ chị buồn lắm. Cả khu xóm trọ của chị Nga có khoảng 45 người nhưng phần lớn đều không về.
Buổi chiều muộn khi chúng tôi đến xóm trọ này, một số nữ công nhân cùng quê ở huyện Thanh Chương, Nghệ An ngồi gói quà gửi cho chị Đức, nữ công nhân ở phòng 17, để gửi về cho gia đình làm quà tết. Phần quà tết công nhân chẳng có gì ngoài vài hộp bánh kẹo, gói mứt tết...
Tại khu trọ công nhân số 19/1 đường số 3, khu phố 4, P.Linh Trung, Q.Thủ Đức, khi bà chủ trọ đến ghi danh sách công nhân ở lại thì hơn một nửa công nhân đều đăng ký, nhiều người khác lưỡng lự: “Bọn con 50/50 cô ạ, chờ đến 27 tết công ty có tiền trả lương thưởng thì bọn con nhảy xe đò về, không thì...”.
Rảo quanh khu lưu trú công nhân ở đường số 7, Q.Bình Tân, hầu như các phòng đều có công nhân đăng ký ở lại ăn tết. Như phòng B12 có bảy người đều quê ở Hà Tĩnh thì hết năm người ở lại, phòng B8 có năm người thì chỉ có hai người về... Ban quản lý khu lưu trú cho biết đang nắm danh sách để tổ chức cho công nhân đón tết xa nhà.
ĐÌNH DÂN

15 tháng 1, 2012

Tết đến bên cửa nhà nghèo

TT - Giữa cái nắng trưa oi ả, chúng tôi đến xóm nghèo Thiềng Liềng, một xóm nhỏ lọt thỏm giữa mênh mông nước và các vạt rừng đước Cần Giờ, TP.HCM.

Bà Đỗ Thị Tâm chuẩn bị đem bán 2kg ốc len đã mò bắt trong bảy ngày - Ảnh: H.VĂN


Cả xóm vắng ngắt, chỉ còn ít người già, người không nghề nghiệp ở nhà. Một người dân cho biết: “Giờ này hầu hết mọi người vẫn ở đồng muối làm việc, người nào không làm muối thì đang lênh đênh trên sông nước hay chui lủi giữa các vạt rừng để kiếm cá, bắt ốc. Người dân hầu hết đều nghèo nên ai cũng phải vất vả chạy ăn từng ngày dù cái tết đã gần kề”.
Mất mùa khi tết đến
Cái nghèo ở đây hiển hiện trên những nóc nhà vách lá mái tôn cũ kỹ và nét mặt đăm chiêu của những người dân khắc khổ. Ghé vào nhà bà Đỗ Thị Tâm, căn nhà trống huơ trống hoác với tủ thờ đặt giữa nhà là tài sản quý giá nhất. Hỏi chuyện bà Tâm, chúng tôi chỉ nhận được những cái ra dấu bằng tay vì bà bị câm bẩm sinh. Qua phiên dịch bất đắc dĩ của ông Nguyễn Hồng Huỳnh, trưởng ấp, chúng tôi mới biết bà chuẩn bị đi bán 2kg ốc len bắt được quanh các vạt rừng.
Theo giá thị trường, với 2kg ốc bà Tâm có thể bán được khoảng 200.000 đồng. Bà đưa hai bàn tay lên và gập lại ba ngón với ý cho biết 2kg ốc là công mò bắt bảy ngày qua. Ngoài nghề bắt ốc, bà Tâm sống dựa vào con trai duy nhất vừa bỏ học lớp 9 đang làm thuê ngoài đồng muối. Hỏi việc sắm tết, bà lại ra dấu cho biết nếu chủ muối sớm trả công cho con trai thì có tiền sắm tết, còn không thì phần quà tết xã vừa trao tặng có lẽ là quà mang đậm hương tết quý giá nhất. “Đây là hộ neo đơn nhất và nghèo nhất, thu nhập của họ dưới 8 triệu đồng/năm, chủ yếu từ nghề làm thuê của con trai” - ông Huỳnh cho biết. Cả ấp có 206 hộ nhưng đã có 101 hộ nghèo, hầu hết sống bằng nghề làm muối, số ít đánh cá, bắt ốc.
Anh Nguyễn Văn Yến, công an khu vực của ấp, cũng là một chủ muối đang chạy vay tiền trả công cho những người làm thuê để họ lo tết. “Thời gian này mọi năm là cao điểm thu hoạch muối, nhưng năm nay thời tiết bất ổn, mưa liên miên nên đồng muối giờ chỉ toàn nước mặn. Hạt muối không kết tinh nên ngay cả các chủ muối như chúng tôi cũng gặp khó khăn huống gì người làm thuê” - anh Yến nhìn đồng muối nói. Anh cho biết năm ngoái giờ này đã thu hoạch gần cả chục tấn muối, nhờ vậy mà cả chủ muối lẫn người làm thuê đều có cái tết đầm ấm. Nhưng muối năm nay mất mùa vì thời tiết “đỏng đảnh” gây mưa liên miên, muối vừa kết tinh lại tan thành nước. Trong những ngày Tết Nguyên đán, nếu trời nắng to thì người làm muối ở ấp Thiềng Liềng vẫn ra đồng làm việc bình thường.
Bà Trần Thị Xương sống với cháu ngoại đang làm thuê trên đồng muối của anh Yến cho biết cháu ngoại của bà làm thuê thu nhập hơn 3 triệu đồng/tháng, đến nay chưa được nhận tiền công vì chủ muối không có tiền trả. Trong danh sách nghèo của ấp, gia đình bà Xương cũng là hộ nghèo dưới chuẩn 8 triệu đồng/năm.
Không theo nghề muối, hai vợ chồng ông Vũ Tiến Phúc và bà Trần Thị Lộc vẫn ngày ngày chèo xuồng quanh mấy lạch nước gần ấp để kiếm con cá đắp đổi qua ngày. Hôm chúng tôi đến, hai ông bà vừa xong mấy mẻ lưới nước ròng buổi sáng chỉ bắt được non 2kg, bán được hơn 20.000 đồng. “Hai vợ chồng tui vừa kiếm tiền nuôi thân vừa lo cho đứa con nằm liệt giường 20 năm nay vì căn bệnh chất độc da cam” - ông Tiến kể. Trước đây ông là bộ đội đóng quân ở Tây Ninh, sau về cưới vợ lập gia đình. Năm 1992, đứa con gái đầu lòng cũng là duy nhất ra đời. Nhưng hạnh phúc chỉ kéo dài bốn tháng và từ đó con gái ông cứ ngày một teo dần và nằm liệt giường đến nay. “Tuổi cao sức yếu lại không nghề nghiệp ổn định nên không biết chúng tôi sống đến ngày nào lo cho con nữa” - bà Lộc ứa nước mắt. Căn nhà hai ông bà đang ở cũng là nhà tình thương.
Mùa xuân lặng lẽ
Chúng tôi tìm về khu dân cư Cá Cháy, ấp Doi Lầu, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ nằm giữa tứ bề rừng đước mênh mông.
Chị Huỳnh Thị Kim Phượng (36 tuổi) đang ngồi tỉ mỉ kết từng hạt cườm áo cho các tiệm may để kiếm tiền sắm tết. Chị Phượng dời nhà từ khu sạt lở cầu Kinh Bà Tổng xuống khu dân cư Cá Cháy đã hơn một năm nay. Đó cũng là thời gian chị lặn lội vào rừng đước mò ốc, bắt nha (ba khía) để sống đắp đổi qua ngày.
Những ngày tháng lội nước, mò nha bắt ốc liên tục trong rừng khiến chị mắc đủ thứ bệnh, cộng thêm bệnh thiếu máu và viêm xoang nên mấy tháng nay sức khỏe sa sút nghiêm trọng. Chị Phượng tâm sự: “May nhờ có thẻ bảo hiểm y tế miễn phí của xã chứ không biết lấy tiền đâu mà chạy chữa. Tôi mò nha bắt ốc may lắm chỉ đủ tiền mắm muối qua ngày...”. Anh Diệp, chồng chị, cũng không biết chữ và mưu sinh bằng đủ thứ nghề. Ban ngày cào tôm mướn, phụ hồ, chằm lá dừa nước, ban đêm anh lặn lội vào rừng đước bắt nha. Ngày nào may mắn kiếm được khoảng 100.000 đồng nhưng công việc bữa có bữa không.
Chị Phượng kể: “Giờ một mình ảnh làm nuôi ba mẹ con nghĩ thấy tội quá. Nhưng cho con nghỉ học không đành. Đời mình ít chữ khổ quá rồi, nay chỉ mong con được học hành kiếm nghề ổn định tự nuôi bản thân”. Nhắc đến chuyện sắm sửa ngày tết, chị thở dài: “Có mua sắm gì đâu, mấy đứa nhỏ thấy mẹ bệnh nên không dám đòi quần áo mới”.
Cùng sống trong xóm soi nha là bà Nguyễn Thị Xồm, 70 tuổi, bán bánh chuối chiên. Bán cho xóm nghèo bà chỉ lấy 1.000 đồng/cái gọi là lấy công làm lời. Bà cho biết ngày nào bán được lắm cũng chỉ lời khoảng 10.000 đồng.
Bà Xồm có con trai út là anh Phạm Văn Lý, 36 tuổi, mắt bị yếu nên không thể đi soi bắt nha. Còn cô con dâu Phạm Thị Ngọc Giàu, 34 tuổi, lại bị khuyết tật, vẹo cột sống bẩm sinh nên cũng không làm việc nặng được. Anh Lý nói: “Vợ tui chỉ ở nhà buôn bán lặt vặt, tui đau mắt nên chỉ đi đổi nước cho người ta chứ không soi nha và mần mướn được. Lại lo cho hai đứa con đi học nữa, nhiều khi thấy má bệnh mà không lo được, tủi thân quá”.
Chị Giàu tâm sự ở khu dân cư Cá Cháy ngày tết cũng chẳng khác ngày thường, nếu gặp con nước ròng mọi người vẫn lội rừng đước, nước ngập tới ngực để soi nha mong kiếm thêm ít tiền đong gạo.
Trước ngày chúng tôi đến, cả bà Tâm, bà Xương và hai vợ chồng ông Phúc - bà Lộc cũng như các hộ nghèo khác đã được nhận phần quà tết do xã trao từ sự đóng góp của các mạnh thường quân. Phần quà trị giá 400.000 đồng (200.000 đồng tiền mặt). Tết năm nay, theo chính sách chung, các hộ nghèo dưới chuẩn 8 triệu đồng sẽ được tặng phần quà trị giá 600.000 đồng và 400.000 đồng cho các hộ nghèo dưới chuẩn 12 triệu đồng.
HỒ VĂN - BẢO ÂN

4 tháng 1, 2012

“Quái kiệt” ngủ dưới... đáy biển

Trong giới thợ lặn ngang dọc trong khắp vùng vịnh Tây Nam, có một người khá nổi tiếng và tên tuổi gắn liền với những biệt danh Thuồng luồng biển, Quái kiệt trên đảo Phú Quốc, Kỳ nhân dưới đáy sâu…
“Quái kiệt” đó là Sáu Hà (Nguyễn Văn Hà), ở Bãi Bổn, xã Hàm Ninh, H.Phú Quốc, Kiên Giang. Những biệt danh trên được bạn lặn gán cho ông vì khả năng ở cả ngày và có thể đánh giấc hàng giờ dưới đáy biển. Từ dưới sâu, câu chuyện ấy “bay” lên mặt nước, được các thợ lặn kháo nhau và ông được biết đến nhiều qua những đồn đoán như một giai thoại của đời lặn biển.

“Nghiện" biển

Đến Hàm Ninh, chúng tôi đã thấy được sự nổi tiếng của Sáu Hà khi hỏi nhà ông hầu như ai cũng biết. Có người còn nhiệt tình xách xe dẫn khách đến tận lối ra xóm lặn. Thấy khách lạ đến hỏi, người đàn ông khoảng 50 tuổi có thân hình “phì nhiêu” tỏ vẻ ngạc nhiên: “Tui có quen chú hả?”. Nhưng ngay sau đó, ông trở nên vui vẻ khi biết chúng tôi là nhà báo.


 Câu chuyện bắt đầu khi ông canh cánh rằng vùng biển này bây giờ bị các ghe cào quấy rối dữ quá. Họ “nuốt” trọn từ mặt nước xuống đáy sâu, hủy hoại cả những thứ mà họ không lấy được. Ông nói như thể biển là cánh đồng của nhà mình xanh tốt bỗng có người cho máy vào bừa xới. Biển bị “xử tệ” như thế nên thợ lặn ngày càng khó kiếm sống hơn.

Sau thời gian bị vợ không cho xuống biển vì chứng cao huyết áp, Sáu Hà không cưỡng nổi thôi thúc, tìm cách về với biển. Hôm chúng tôi đến, ông và các thợ lặn trong xóm Bãi Bổn (xã Hàm Ninh, H.Phú Quốc, Kiên Giang) lui cui trét chai cho chiếc ghe mới, chuẩn bị hạ thủy. Ông nói “nhờ” bệnh, bị giảm cân mà ông bây giờ đã “gọn” hơn trước, chỉ còn trên 130 kg. Nhưng bao nhiêu đó cũng đủ để ông giữ chắc kỷ lục là thợ lặn… có trọng lượng nặng nhất xứ đảo. Có lẽ, một điều cơ bản khác hơn giữa ông với nhiều thợ lặn xuống đáy biển kiếm cơm là ông xuống biển gần như là một nhu cầu. Sáu Hà nói ông trở nên “nghiện” đáy biển lúc nào không hay. “Tui ở nhà hoài bứt rứt lắm chú. Nhà không có ghe tui cũng quá giang ghe khác đi biển hà”, ông cười khà.

Chứng "nghiện" biển với ông đã có từ thuở mới 8-9 tuổi, lúc theo cha đi kiếm sống. Thấy con ở trên xuồng không chịu ngồi yên, cha ông đã “quẳng” Sáu Hà xuống biển, buộc dây cho đeo lủng lẳng vào cột chèo. “Lúc đó dưới biển “đồ” nhiều lắm; hải mã, ốc nhảy, đột trắng (hải sâm) còn rất nhiều. Mà người ta cũng đâu có “vùi” dưới biển như bây giờ, đúng là người khôn của khó”, Sáu Hà nói.

Thích ngủ dưới... biển

Mười tuổi, Sáu Hà đã học lặn “hơi tài”, lặn bắt các sản vật ở gần bờ. Đến khi các thợ lặn có thêm sự trợ giúp của bình nén khí thì việc ở lì dưới đáy trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trung bình một thợ lặn cũng chỉ có thể lùng sục dưới sâu nhiều nhất 2-3 giờ. Bởi nếu ở lâu dưới đáy, áp suất và nhiệt độ thấp dễ dẫn đến nguy cơ bị “tê”. Song, với Sáu Hà thì khác. Ông nói nếu không đói và đủ dưỡng khí, ông có thể ở dưới đáy biển cả ngày mà không cần ngoi lên. Thời gian ở dưới đáy lâu là vậy, nhưng ông ít khi bắt được nhiều sản vật hơn các thợ lặn khác. Ông thú nhận, khi xuống biển, ông rất thong dong và thường xuyên... đánh giấc mỗi khi buồn ngủ.



Chuyện Sáu Hà ngủ dưới biển, lần đầu được ông nhìn nhận như là một tai nạn hơn là “thi thố” gì. Cách nay gần 10 năm, trong một lần lặn bắt hải mã, bạn lặn thấy ông nằm bất động một chỗ. Anh này hoảng hốt vì nghĩ ông đã bị “tê”. Nhưng khi đến gần khều nhẹ thì ông giật mình tỉnh dậy. Sáu Hà nhớ lại: “Hôm đó tui nhậu nhiều quá, sáng xuống biển cứ thấy buồn ngủ. Biết ngủ dưới này là nguy hiểm, tôi cũng cố gắng đi kiếm “đồ”. Nhưng rồi chẳng bao lâu lại ngủ thiếp đi lúc nào không hay”.

Lúc đầu, khi nghe chuyện Sáu Hà ngủ dưới biển ai cũng nghĩ là... chuyện tiếu lâm, bởi chẳng ai dại đến mức chui xuống biển mà ngủ. Nhưng rồi sau đó, thỉnh thoảng người ta lại thấy ông “đứng hình” dưới đáy biển, bạn lặn phải đánh thức ông dậy. Có người cắc cớ thấy ông ngủ đã đến gần “cúp” ống hơi, không thở được ông lại choàng tỉnh. Lâu dần, khi xuống biển ai cũng lo kiếm “đồ” để bán, chẳng còn quan tâm nhiều chuyện bạn lặn “liều” như thế. Nhiều lúc Sáu Hà phải mất hồn khi đang ngủ trong vô thức đã nhả luôn ống hơi khỏi miệng. Bị vuột ra, chiếc ống không đứng một chỗ mà “nhảy” khắp nơi, làm ông rất khó khăn bắt lại. Có những lần không bắt kịp ống hơi, ông một phen uống đầy nước biển.

Nhiều lần riết rồi thành thói quen, không ai còn lạ gì khi thấy Sáu Hà đánh giấc dưới đáy sâu. Lúc ông xuống biển, người trên tàu thấy bọt khí di chuyển thì biết ông đang làm, còn thấy nó đứng một chỗ thì biết đích thị ông lại ngả lưng vào đâu đó mà đánh giấc. Ông “chia sẻ” cảm giác ngủ dưới đáy biển: “Nó rất dễ chịu, mát hơn ngủ phòng có máy điều hòa và không sợ ai quấy rầy”. Tuy nhiên, trong các thợ lặn ở biển Tây, có lẽ duy nhất ông có cảm giác kỳ lạ và “dễ chịu” như thế.

Khi biết Sáu Hà có thói quen kỳ khôi như thế, người nhà cũng không khỏi lo lắng. Đến khi ông bị chứng cao huyết áp giày vò, vợ và các con ngăn không cho ông đi biển nữa. Nhưng không đi biển thì lại buồn, lại “nóng nực chịu không nổi”, lại thêm bạn nhậu rủ rê, thế là ông lại có cớ nói với bà nhà xuống biển vừa tránh sa vào chè chén, lại kiếm được tiền. Lý do quá hợp lý, khiến vợ ông không còn cách nào để ngăn ông trở lại biển.

Nhìn chiếc ghe mới, Sáu Hà háo hức như đứa trẻ vừa được cho quà. Hôm chúng tôi đến, ông nói vậy là mình sắp được trở lại đáy biển. Lần này, ông sẽ lặn cả ban đêm, là lúc nhiều sinh vật biển ra khỏi nơi ẩn nấp, dễ kiếm tiền hơn. Cũng còn bởi với ông, lặn biển đêm hay ngày chẳng khác nhau là mấy.


Mua bán sản phẩm tại bến đậu của các thợ lặn ở Phú Quốc - Ảnh: T.T



“Quái kiệt” Nguyễn Văn Hà, thợ lặn được biết đến như người có sở thích... ngủ dưới đáy biển - Ảnh: T.T



Tiến Trình

2 tháng 1, 2012

Đau lòng 4 trẻ mồ côi

TT - Giáp tết, khi những đứa trẻ đang chờ được mẹ mua sắm áo mới, quà đẹp thì bốn đứa con của chị Mai Thị Phúc (ở thôn Thạnh Mỹ, xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) không bao giờ còn có niềm mong ngóng ấy vì mẹ qua đời trong một lần chèo đò.


Mất đi người bạn đời, từ nay một mình anh Hưng phải vừa làm cha vừa làm mẹ cho cả đám con thơ dại. Trong ảnh là cảnh các con anh Hưng ăn cơm sau bữa cơm cúng mẹ mình - Ảnh: Đ.NAM


Anh Nguyễn Tiến Hưng, chồng chị Phúc, vẫn ám ảnh buổi sáng ấy khi nghe phía ngoài sông Thạnh Mỹ (thôn Thạnh Mỹ, xã Điện Quang) người ta la hét bấn loạn, chạy ra phía bờ sông nghe có tiếng ai đó gọi tên Phúc - vợ mình.
Buổi sáng định mệnh
Anh Hưng sựng người, chỉ còn nhìn thấy hai cánh tay chới với giữa dòng rồi chìm hẳn... Trên bờ, đứa con lớn nhất - Nguyễn Tiến Hảo, 11 tuổi, nằm rạp xuống mép bờ sông, hai tay liên tục cào bới đất trong nhòe nhoẹt nước mắt: “Mẹ mà chết là con không đi học nữa. Mẹ đừng làm như vậy với con!”. Hai thằng bé kế tiếp đang ngồi trong lớp học, nghe có người đến báo tin mẹ nó bị chìm ghe, chết rồi thì đầu trần, chân đất mà băng mưa, chạy thục mạng ra bờ sông. Đến khi người ta đưa thi thể mẹ lên, cả bốn đứa đớn đau, chạy ùa lại cố hít hà, sưởi ấm cho mẹ.
Kể lại câu chuyện đau lòng đó, bà con hàng xóm của gia đình anh Hưng đều sụt sùi khóc. Chị Hải, một người hàng xóm, kể: “Tôi nhớ như in đó là buổi sáng ngày 7-12-2011, tôi và sáu người khác đi về phía bờ sông thì đã thấy Phúc đứng đó. Bình thường khi nào Hưng cũng chèo cho Phúc, nhưng sáng hôm đó Hưng chở con đi học. Chỉ có mình Phúc trên chiếc ghe nan và mấy rổ ớt con, một mình chèo qua sông và gặp nạn”.
Cưới nhau từ năm 1999, hai vợ chồng anh Nguyễn Tiến Hưng và chị Mai Thị Phúc chưa bao giờ có một ngày sung túc đúng nghĩa. Nhà có sáu người, cộng thêm một bà mẹ già và một người anh trai bị tâm thần, vợ chồng anh quanh năm cắm đầu cắm mặt với chín khấu đất (450m2) để làm. Được đồng nào thì lo cho bốn đứa con ăn học, lo cho mẹ già hay đau ốm. “Sáng hôm đó, con Phúc dậy sớm lắm! Nó nói con tranh thủ trồng cho xong mấy vồng ớt rồi trưa còn đi làm đất đậu. Nó còn nói cố gắng làm để kiếm tiền mua cho tụi nhỏ ít quần áo tết...” - bà Tạ Thị, mẹ chồng chị Phúc, rưng rưng.
Từ hôm vợ mất, anh Hưng trở nên im lặng, sáng chở ba đứa con lớn đến trường rồi gửi đứa út cho nhà hàng xóm, anh quay về chèo ghe sang sông để trồng cho hết những vồng ớt mà vợ mình đang làm dang dở. Giữa những luống đất còn thơm mùi đất mới, anh ngồi lặng lẽ, rồi bất ngờ hỏi: “Làm phụ nữ nếu được đeo cái dây chuyền, cái bông tai do chồng tặng chắc họ hạnh phúc lắm đúng không?”. Chưa kịp nghe trả lời, đã thấy mắt anh đỏ hoe, và rồi anh khóc. Nước mắt của người đàn ông 40 tuổi, cay đắng, bất lực vì từ ngày cưới vợ đến khi vợ nằm xuống, anh chưa bao giờ có đủ một khoản tiền dư giả để mua tặng vợ một sợi dây chuyền nữ trang.
Không cần tết, chỉ cần mẹ
Đợi bà nội cúng cơm cho mẹ xong, thằng bé con đầu vội vã dọn cơm cho các em ăn. Mâm cơm vỏn vẹn một chén nước tương, một chén muối đậu và hai bát cơm còn cắm đôi đũa (cơm dành cúng cho người mới chết). Bốn đứa xúm xít lại quanh mâm cơm, đứa học lớp 6 lo cho đứa 3 tuổi, đứa học lớp 3 lo cho đứa học lớp 1. Nhìn những tấm áo phong phanh, những ngón tay tím tái vì lạnh, những đôi chân lấm lem vì bùn đất của bốn đứa nhỏ, chị Tạ Thị Thương, hàng xóm của gia đình anh Hưng, nói: “Dù thằng Hưng có thương con đến mấy nó cũng không thể làm tròn vai vừa là cha vừa là mẹ đâu. Từ hôm con Phúc mất đi, mấy đứa nhỏ lúc nào cũng nhem nhuốc, bữa ăn nào cũng chỉ có nước tương và muối đậu mà thôi”.
Ăn xong bữa cơm trưa tạm bợ, bốn đứa nhỏ vẫn ngồi sát bên bàn thờ mẹ. Đứa nào cũng nhìn chăm chăm vào di ảnh mẹ cười cười, nói nói. Chị Thương kể: “Tụi nó đang nói chuyện với mẹ nó đó! Trưa nào cũng vậy, buổi tối thì có thêm ba tụi nó nữa. Hôm rồi tui nghe con bé nhỏ đứng bên bàn thờ mà bi bô: Mẹ ơi! Tết mẹ mua áo đẹp cho con nghe, mua cho con cái dây cột tóc nữa. Thằng bé đầu nghe vậy vừa khóc vừa la em: Để im cho mẹ ngủ, không được đòi mẹ cái gì cả nghe không. La em xong là nó ôm em vào lòng khóc như mưa, con bé không biết gì cứ cười hì hì rồi thiếp vào lòng anh lúc nào không hay”.
Từ ngày mẹ mất, thằng bé đầu dường như chững chạc hơn rất nhiều. Vừa tan học là nó chạy như bay về nhà, thắp hương cho mẹ và cặm cụi đốt rơm phụ bà nội nấu nước tắm cho các em. Xong xuôi, cả năm bà cháu dẫn nhau ra phía bờ sông đợi ba đi làm về. Nhìn những ánh mắt trẻ thơ thẫn thờ nhìn chằm chằm vào con nước đang cuộn chảy về xuôi mà không cầm được lòng...
Khi được hỏi tết này tụi con muốn gì, thằng bé thứ hai mếu máo nói: “Tụi con không cần tết, tụi con chỉ cần có mẹ. Chỉ cần cho mẹ con sống lại là tụi con không cần gì cả. Tụi con nhớ mẹ lắm! Bé Bích, em con mới 3 tuổi, hồi mẹ còn sống đêm nào nó cũng ngủ với mẹ. Từ ngày mẹ mất, nó ngủ với ba và con, đêm nào nó cũng khóc đòi mẹ, nó bắt con và ba phải gãi lưng nó giống như mẹ gãi vậy đó!
Buổi trưa vắng tênh trong căn nhà lộng gió, dưới chân bàn thờ của người đàn bà mới mất có bốn đứa trẻ nằm cuộn chặt vào nhau như cố tìm chút hơi ấm của mẹ. Trong giấc ngủ chập chờn đó, thỉnh thoảng có đứa cười khậc khậc. Chắc tụi nó lại mơ thấy được mẹ mua cho chiếc áo mới, cái kẹo ngon và được mẹ âu yếm ôm vào lòng. Con bé 3 tuổi tỉnh dậy, ngơ ngác, nhìn lên bàn thờ mẹ và khóc toáng lên kêu: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Rồi cả bốn đứa ôm nhau khóc nức nở...
MINH KIỆT - ĐĂNG NAM

Tết sớm với trẻ em nghèo vùng xa

Những ngày vừa qua, Chương trình Gấu Đỏ gắn kết yêu thương do Báo Thanh Niên, nhãn hàng mì Gấu Đỏ (Công ty CP thực phẩm Á Châu), Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam đã mang quà tết đến với trẻ em nghèo các huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Lộc Ninh, Bù Đốp của tỉnh Bình Phước.
Không khí tết đang đến gần hơn đối với những em thiếu nhi ở huyện vùng sâu Xuyên Mộc khi chương trình Gấu Đỏ gắn kết yêu thương đến tặng quà, chia sẻ niềm vui với các em.

"
" Bí thư Tỉnh đoàn Bình Phước Tôn Ngọc Hạnh và đại diện nhãn hàng mì Gấu Đỏ tặng quà cho các em - Ảnh: Thanh Đông

Dù đã tham gia trao quà tết cho trẻ em ở nhiều tỉnh, thành nhưng với chị Vũ Đức Hạ Quyên - đại diện nhãn hàng mì Gấu Đỏ, thì buổi tặng quà cho các em thiếu nhi nghèo huyện Xuyên Mộc vẫn đáng nhớ nhất, bởi hình ảnh những em nhỏ rất dễ thương chưa đầy 6 tuổi, mặc  đồng phục của trường mẫu giáo xếp hàng lên nhận quà trong tiếng vỗ tay của những người xung quanh.
Bà Trần Ngọc Thân - Phó chủ tịch huyện Xuyên Mộc - cho biết huyện có tỷ lệ hộ nghèo đông nhất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, số lượng trẻ có hoàn cảnh khó khăn rất nhiều. Phát biểu chia sẻ niềm vui tết được nhận quà với các em thiếu nhi, bà Thân đánh giá rất cao chương trình.“Đây là chương trình xã hội có tính nhân văn sâu sắc, thể hiện được sự cảm thông của xã hội đối với những em thiếu nhi nghèo. Phần quà sẽ là động lực để các em tiếp tục phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội” - bà Thân nói.
Tại buổi trao quà, em Nguyễn Minh Nam - học sinh lớp 6 Trường THCS Phước Bửu - xúc động nói: “Từ nhỏ đến giờ con mới được nhận một phần quà tết như thế này, với phần tiền lì xì này con sẽ đưa cho mẹ để mua quần áo và chút quà đón tết”. Nam cho biết bố em đi làm thợ hồ, còn người anh mới đi làm công nhân được vài tháng thì bị máy cắt đứt bốn ngón tay bây giờ đang ở nhà. Cuộc sống khó khăn nên Nam thường đến lớp với bụng đói. Trước khi ôm thùng mì ra về, Nam cười vui: “Sáng nào còn cơm nguội thì ăn lót lòng, hết thì mang bụng đói đến lớp. Với thùng mì này con sẽ dành để ăn sáng”.
Quà tết của chương trình dành cho trẻ em nghèo nên hầu hết các nơi chúng tôi đến đều gặp những hoàn cảnh đáng thương. Phần quà nhỏ nhưng cũng làm ấm lòng những em thiếu nhi đang ngày đêm phụ cha mẹ kiếm sống và học tập vượt lên số phận.
Cùng ngày, chương trình đã đến với 500 học sinh nghèo của huyện Lộc Ninh và huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Nhờ sự hỗ trợ của Tỉnh đoàn Bình Phước và Huyện đoàn Bù Đốp, 500 phần quà đã nhanh chóng trao tận tay các em học sinh nghèo nơi đây.
Gặp và chứng kiến niềm vui của các em khi được nhận quà mới thấy chương trình này có ý nghĩa biết bao. Cô Nguyễn Thị Hồng - giáo viên Trường tiểu học Phước Thiện, xã Phước Thiện, huyện Bù Đốp - tâm sự: “Học trò ở đây nghèo lắm, đa số là người đồng bào dân tộc Stieng, Khmer, Tày, Nùng.  Mì gói, bánh kẹo với các em là thứ xa xỉ”. Cô Hồng cho biết thêm, Trường tiểu học Phước Thiện có một cơ sở nằm trong tiểu khu 134, đây được ví là khu vực 4 không: không điện, không đường, không trường, không trạm. Trường mượn đỡ một cơ sở để dạy 50 em học sinh người dân tộc. Các em ở đây bị cha mẹ bắt ở nhà đi rẫy nên hay bỏ học, tuy nhiên nhờ sự vận động nhiệt tình của các thầy cô, tỷ lệ các em đến trường cũng tương đối khá. Bây giờ, có thêm sự động viên, chia sẻ của xã hội bằng các chương trình từ thiện, sẽ giúp các em càng có thêm động lực để đến trường tìm kiếm con chữ.
Thiên Long - Thanh Đông

19 tháng 12, 2011

Người nhặt rác không màng 45 triệu đồng của rơi

Từ ngày ông Cho nhặt được bọc tiền gói trong túi nylon mang lên giao cho công an, ai cũng bảo ông dại. Còn ông lão làm nghề nhặt rác này lại thấy mừng vì số tiền kia đã về với chủ.
Không kể nắng mưa, ngày nào ông Trần Văn Cho, tổ 28 phường Thuận Phước (Hải Châu, TP Đà Nẵng) cũng đi lượm rác từ sáng sớm đến tối mịt mới về nhà.
Một buổi chiều tháng 10, đang đi trên đường Lê Đình Lý, thấy bọc nylon, nhặt lên phát hiện bên trong có tiền, ông Cho chẳng mở ra xem mà đem thẳng đến công an phường Nam Dương, quận Hải Châu, nhờ trả lại cho người mất. Về nhà ông im lặng không kể cho ai, kể cả mẹ và em gái.
Đến khi có người đọc được mẩu tin ngắn trên báo viết về việc làm của ông Cho, người dân mới xì xào bàn tán. Nhiều người bình phẩm chẳng ai dại như ông đi chê “lộc trời” trong khi nhà đang phải chạy ăn từng bữa. Nhưng ông chẳng để ý, ngày ngày kiên trì với công việc nhặt rác. Ngay cả khi mẹ và em gái hỏi, ông chỉ cười bảo: “Người ta mất của tội lắm, mình sao có thể sống bằng số tiền đó”.
Bà Trần Thị Liên, em gái ông Cho kể lại: “10 hôm sau kể từ ngày anh Cho nhặt được tiền, anh mang về 1,5 triệu cùng 10 kg gạo, dầu ăn… Hỏi thì anh bảo người bị mất tiền hôm trước sau khi nhận lại tiền tình cờ gặp anh đi lượm rác ngoài đường, họ đã biếu. Nhà tôi ai cũng vui”.
Bước sang tuổi 61, ông Cho thường xuyên đau ốm. Ông kể, nhà quá nghèo nên thời trai trẻ ông không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình vì sợ sẽ không lo được hạnh phúc cho vợ con. Đến khi đã lớn tuổi, cái nghèo vẫn đeo bám mãi, ông Cho đành ở vậy.
Ông Cho làm nghề đạp xe thồ, ai thuê gì chở nấy để có tiền phụ giúp mẹ già bị bệnh tim thường xuyên phải vào cấp cứu. Không đủ tiền mua đất xây nhà, ông Cho cùng mẹ và em gái phải thuê nhà ở trọ, cuộc sống thiếu thốn đủ bề. Mới đây, Bộ đội Biên phòng thành phố giúp đỡ gia đình cất được căn nhà, ba mẹ con mừng ra mặt.
Một lần đang đạp xe thồ chở hàng cho khách, ông Cho bị tai nạn giao thông phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng. Khi chụp X-quang, các bác sĩ mới phát hiện trong đầu ông còn nhiều mảnh đạn nhỏ. “Năm 1968 tôi bị bắt đi lính Việt Nam Cộng hòa, rồi bị thương trong một trận chiến nhưng ngày đó chỉ được băng bó tạm thời nên giờ tuổi cao, sức yếu chân tay thường xuyên bị bủn rủn. Các bác sĩ bảo nếu không chữa trị kịp thời tôi sẽ bị liệt nhưng vì nhà không có tiền nên đành chịu vậy”, ông Cho kể.
Sau tai nạn, không đủ sức đạp xe thồ, ông Cho sống bằng nghề nhặt rác. Hằng ngày, ông lặng lẽ cùng những vòng xe dạo khắp các ngõ hẻm nhặt rác kiếm 40-50 chục nghìn. Và mỗi ngày, ông lại chọn một niềm vui trong cuộc sống như giúp đỡ em bé đi qua đường, chở một cụ già đi trên đường không lấy tiền công, hay như chuyện trả lại cả cục tiền vô tình lượm được…
Trung tá Nguyễn Hữu Tiến, Trưởng công an phường Nam Dương, cho biết cơ quan đã tiếp nhận số tiền 45 triệu đồng còn bọc nguyên trong túi nylon từ ông Trần Văn Cho nhờ trả lại cho người bị mất. Sau đó công an đã thông báo và trả lại số tiền này cho chủ nhân là chị Phạm Thị Thanh Hải (phường Thạc Gián, quận Thanh Khê).
“Dù làm nghề nhặt rác, kinh tế gia đình vô cùng khó khăn nhưng ông Cho đã không màng đến của rơi. Nghĩa cử của ông thật là đáng quý”, trung tá Tiến nói. Với nghĩa cử này, Công an quận Hải Châu đã trao bằng khen cùng số tiền thưởng 2 triệu đồng cho ông Cho.
Nói về việc làm của mình, ông Cho chỉ giản dị: “Việc làm của tôi cũng không có gì to tát lắm đâu. Khi mất của thì ai chẳng thấy xót, muốn tìm lại cho kỳ được. Bởi thế khi nhặt được của rơi trả lại cho người bị mất là việc cần thiết nên làm".
Nguyễn Đông

Chấp nhận nghèo để giữ chim trời

TT - Tại thôn Vĩnh Xuân (xã Vĩnh Thái, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), cách trung tâm thành phố khoảng ba cây số về phía tây, còn sót lại một khu rừng đước ngập mặn hiếm hoi rộng khoảng 4ha là nơi trú ngụ của hàng ngàn con cò, vạc, trao trảo, sáo sành, chim sẻ...

Đàn cò trong rừng đước của ông Nguyễn Văn Hưng -  Ảnh: Phạm Ngọc Thành


“Ngôi nhà” của chim
Mỗi ngày, khi trời bắt đầu tối là lúc hàng ngàn con chim, cò bay rợp cả khu rừng đước. Thi thoảng, vài con vạc bắt đầu rời tổ đi kiếm ăn. Không gian đặc quánh tiếng chim. Ngồi trên chiếc cầu gỗ bắc ra giữa đầm nước mặn, nông dân Nguyễn Văn Hưng, 49 tuổi, chủ nhân của khu rừng đước, thanh thản dõi mắt theo những cánh chim về.
Ông Hưng kể ông sống ở khu rừng này với lũ chim từ thời thơ bé. “Ông nội tui khai hoang, trồng rừng đước này từ năm 1950, sau đó chia lại cho những người con. Khi tui còn nhỏ, cả khu này toàn đước là đước, là nơi chim chóc tụ quần. Cha tui có 18ha, ông bán đi một ít, còn thì chia cho bảy anh em tui. Khu rừng này giờ rộng 4ha, tui chỉ có 2ha, diện tích còn lại là giữ giùm cho một người khác. Cách đây mươi năm, cơn lốc nuôi tôm ào qua, người ta phá bỏ sạch sẽ khu rừng đước rộng lớn để làm ao đìa. Nhưng tui quyết giữ rừng đước này vì không thể tưởng tượng được một ngày không nhìn thấy đàn chim, không nghe tiếng kêu của chúng thì mình sẽ sống thế nào”.
Những khu rừng ngập mặn ở Khánh Hòa mất dần. Lũ cò, vạc, trao trảo... tràn về rừng đước ông Hưng trú ngụ. Cuộc sống gia đình ông Hưng có khó khăn chút đỉnh vì không làm ao đìa nuôi tôm thâm canh như người khác, chỉ thả tôm, cá, cua nuôi “sinh thái” trong đầm đước, thu hoạch được bao nhiêu thì được. Bù lại, ông “sở hữu” hàng ngàn con chim các loại - thứ “của cải” không phải ai cũng có.
“Lũ cò xanh ở đây quanh năm, mùa hè chúng mới đẻ. Thứ cò này làm tổ sơ sài lắm, chỉ bẻ một số cọng cây, gác lên trên các chạc đước rồi đẻ trứng. Còn lũ cò trắng thì ở đây phải 2.000-3.000 con, nhưng ba tháng hè chúng di cư đi đâu đấy, trong rừng chỉ còn vài trăm con. Sáo sành mùa đông mới về nhiều, những mùa khác chúng không thích ở đây...” - ông Hưng thuộc lòng tập quán các loài chim trong rừng.
Ông Phạm Ngọc Thành, hội viên chi hội nhiếp ảnh thuộc Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, nói: “Ở sát đô thị Nha Trang mà có một rừng đước còn nguyên sơ được gìn giữ hàng chục năm và là nơi trú ngụ của hàng ngàn con chim, cò là điều rất độc đáo. Tôi và bạn bè nhiếp ảnh đã đến rừng đước anh Hưng săn ảnh chim nhiều lần và mê mẩn trước thiên nhiên ở đây”.

 Ông Nguyễn Văn Hưng ngắm nhìn đàn cò trở về sau một ngày kiếm ăn - Ảnh: Duy Thanh 


Bị đe dọa vì... giữ chim trời
Điều làm ông chủ vườn chim đau đáu nhất là ngày càng có nhiều kẻ nhòm ngó, cứ sẩm tối lại lén vác súng và đèn pin vào khu rừng để bắn chim, cò.
“Nửa đêm nửa hôm tui cũng phải đi đuổi bọn chúng. Có đứa còn nạt lại tui: “Chim, cò là của trời chứ phải của ông đâu mà đành hanh?”. Tui phải hét lại: “Đầm đước này là của tao, cái gì trên đầm đước đều là của tao, đàn chim là của tao. Thằng nào đụng đến là có chuyện”. Có đứa bỏ đi, nhưng có đứa đe dọa, đòi đánh. Tui phải nhờ thêm mấy ông hàng xóm “trợ lực”, dọa báo công an, chúng mới đi”.
Trước nỗi lo của ông Hưng, ông Lê Mộng Điệp - giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa - nói sẽ đề nghị Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Khánh Hòa thuộc sở xem xét, nếu được sẽ xây dựng đề án bảo vệ rừng đước và đàn chim.
Còn ông Võ Thanh Tuấn - chủ tịch UBND xã Vĩnh Thái - cho biết: “Địa phương trân trọng và động viên ông Nguyễn Văn Hưng bảo tồn được rừng đước, bảo vệ đàn chim, cò tự nhiên. Rừng đước này nằm trong quy hoạch công viên phía tây đường Lê Hồng Phong, xã đã đề nghị cấp trên nên xem xét giữ lại nguyên trạng để tạo sự độc đáo cho công viên này”.
DUY THANH

1 tháng 12, 2011

Khoảng lặng giữa thành phố

TT - Tất bật cơm áo gạo tiền suốt tuần, sáng chủ nhật tôi cũng dậy sớm nhưng thong thả đi xe đến vườn hoa nhỏ trước nhà thờ Đức Bà, TP.HCM với bọc thóc nhỏ.

Se sẻ, bồ câu cùng chia sẻ bữa tiệc vào mỗi sáng chủ nhật - Ảnh: R.T


Mới 6g, đàn bồ câu chưa thức dậy, xe cộ thưa thớt, không gian như lắng lại, hơi sương còn ướt đọng quanh đây: khoảng không phía trên, thảm cỏ nho nhỏ và những bụi hoa bé tí của công viên xinh xắn.
Rồi như có một dấu hiệu riêng, một cuộc đổ bộ đáng yêu của đàn bồ câu từ trên nóc nhà thờ Đức Bà ào xuống công viên, bay vòng quanh những người mà hình như chúng biết sẽ cho chúng những nắm thóc, những bọc gạo ân tình.
Vài vòng ngoạn mục đủ làm nức lòng người, đàn bồ câu sà xuống, từng nắm thóc, gạo được vung ra. Có người sang hơn cho cả đậu xanh, đậu đỏ. Đặc biệt đám se sẻ cũng ké phần nhưng thật kỳ diệu, chúng không tranh giành nhau, bồ câu không ỷ mạnh hiếp đáp se sẻ, se sẻ cũng chẳng cậy mình đông, dễ lòn lách tranh ăn với bồ câu. Chúng chia hai nhóm rạch ròi cùng hưởng sự bao dung, thương yêu của các cư dân thành phố, xem ra chúng cũng là cư dân thành phố chứ sao!
Ngày xưa, mỗi lần xem những bộ phim nước ngoài, thấy những đàn bồ câu bạo dạn “xin ăn” khách đi đường nơi các quảng trường, tôi ao ước Sài Gòn cũng có một đàn bồ câu như thế. Ước mơ thành sự thật khi một ngày không hiểu từ đâu, những con bồ câu bé nhỏ xinh xắn đến tá túc dưới tháp chuông nhà thờ Đức Bà và Bưu điện TP.HCM.
Cũng có một thời báo chí lên án khi đàn bồ câu vơi đi vì nạn săn bắt trộm của những kẻ thiếu ý thức bảo vệ một nét đẹp của Sài Gòn.
Cứ sáng chủ nhật, có người đến đây cho bồ câu ăn, trò chuyện cùng nhau, giải tỏa nỗi lòng, phụ huynh đưa con đến, trao cho con những bọc gạo và dạy con bài học yêu thương loài vật, trân trọng những giá trị của thiên nhiên bằng những nắm tay nhỏ nhắn tung ra cho đàn bồ câu và se sẻ.
Thường ngày bồ câu cũng có người cho ăn, những con người tự nhận mình “mắc nợ” bồ câu để phải đến mỗi sáng hay buổi trưa nắng gắt. Duy chỉ sáng chủ nhật thật đông người đến, họ tìm thú vui bên những con vật dễ thương, và hơn hết họ tìm những giây phút hiếm hoi lắng đọng bên những chú bồ câu, se sẻ và không gian yên tĩnh hiếm hoi giữa lòng thành phố nổi tiếng bụi bặm này.
RỪNG THÔNG

24 tháng 11, 2011

Nghị lực của cậu bé tay khoèo

TT - Hai cánh tay bị khoèo trở nên vô dụng, Trần Văn Huy, 11 tuổi, cần cù luyện tập, dùng đôi bàn chân cầm, nắm thay tay. 
                            Huy luyện tập dùng chân phải kẹp bút - Ảnh: Đ.T.C.


Huy đang học lớp 3B Trường tiểu học “D” Bình Thủy, xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, An Giang. Nhà Huy ở tổ 13, ấp Bình Thới, xã Bình Thủy. Mùa lũ này, căn nhà bị ngập, đôi tay em dị tật không bơi lội được, người thân sợ Huy té sông chết đuối nên phải gửi tạm em ở nhà ngoại.
Bà Nguyễn Thị Nương, mẹ Huy, kể lúc chào đời em đã bị tật đôi tay. Hai bàn tay ngón cong ngón thẳng cứng ngay đơ, không co duỗi được. Thương con, gia đình chấp nhận tốn kém đưa đi chữa trị nhiều nơi, rồi đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh... nhưng không trị hết. Nhà nghèo, không đủ tiền đưa con lên các bệnh viện lớn ở Sài Gòn điều trị, bà Nương nuốt nước mắt nhìn con sống cùng dị tật.
Năm lên 9 tuổi, thấy trẻ em cùng lứa trong xóm đi học, Huy tủi lắm. Em nài nỉ xin cha mẹ cho đi học nhưng gia đình cứ do dự vì lo làm sao em có thể cầm viết ghi bài được. Cuối cùng, suy nghĩ mãi, bà Nương đành ngại ngùng dắt con tới trường xin thầy hiệu trưởng cho Huy đi học. Thầy cô nhìn đôi tay Huy đều ngại nhưng mến đứa trẻ ham học nên nhận vào.
Huy được thầy cô đặc cách, miễn một số môn học thủ công, thể dục, vẽ... Giờ học, mỗi khi cần lật sách sang trang khác em phải nhờ bạn lật giúp. Em không cầm viết được nên thầy cô dạy em nhớ cách đọc các số, các chữ cái. Khi làm bài tập toán hoặc viết chính tả, Huy được ưu tiên, em phát âm lại các từ hoặc đọc kết quả bài toán cho thầy cô hoặc bạn chép giùm lên giấy, lên bảng. Với cách học kỳ lạ vậy nhưng cuối năm Huy vẫn được xếp loại học sinh khá.
Kỳ nghỉ hè vừa qua, Huy ở nhà tự luyện tập viết vì em thấy đi học mà nhờ thầy cô, bạn bè viết giùm hoài “mắc cỡ quá”. Huy lấy chân phải kẹp viết rồi hí hoáy ghi, ban đầu đau lắm, ngón chân sưng tấy, chữ viết to đùng nhưng em không nản lòng. Sau ba tháng hè, vào lớp, Huy đã tự mình dùng chân viết, không phải nhờ bạn bè như trước.
Hôm gặp Huy, đôi tay em luôn buông thõng, chốc chốc hai tay lại giật như bị bệnh phong. Nhưng Huy rất hồn nhiên, em dùng chân kẹp muỗng múc đồ ăn, dùng chân cầm ly uống nước..., rồi dùng chân kẹp cây bút hí hoáy viết từng con số, con chữ.
Thầy Dương Văn Nguê, giáo viên chủ nhiệm lớp 3B, cho biết Huy được đặc cách ngồi học trên bàn, khi vẽ, viết, làm toán, em được ưu tiên làm trên tấm bảng nhỏ, không phải lên bục như các học sinh khác. Thầy Nguê nhận xét Huy rất ngoan, chăm học nên thầy cô, bạn bè rất mến.
ĐẶNG THÀNH CÔNG


16 tháng 11, 2011

Ông già bán vé số

TT - Ông già bán vé số lụm cụm rướn cổ la: “Ới, nó lấy vé số của tui”. Đám đông hiếu kỳ ở chợ vây quanh ông hỏi: “Mất ít hay nhiều?”. Nước mắt ông vắn dài: “Tui không biết. Tối nay lấy cái gì ăn đây trời đất ơi!”.
Đó là câu chuyện của ông già Lê Kính, đã 84 tuổi, ở Thiết Đính Nam (Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định). Già yếu, tai điếc, mắt mờ phải bươn bả kiếm tiền nuôi người vợ bị mù nằm ở nhà cùng hai con gần 50 tuổi bị tâm thần, chen chúc trong căn nhà xiêu vẹo.

Dù tuổi đã cao, ông Kính vẫn bươn chải bán vé số nuôi vợ con - Ảnh: T.Đ.


Cả cuộc đời ông nghèo. Tuổi càng ngày càng cao, không biết làm gì để có tiền ông đi mót củi, mót rơm rơi vãi bán. Một khúc củi, một bó rơm thì bán được bao nhiêu. Người ta thấy vậy thương, mua một cho hai, có khi không có nhu cầu nhưng vẫn gọi ông vào mua để cho tiền chứ cho không thì ông không bao giờ lấy. Ông không phải ăn xin. Ông rất giỏi tiếng Hán, nhiều người cần dịch gì thì vào cậy ông, nhất là các bức liễn, thư cổ.
Mới đây ông đổi nghề: bán vé số. Đi bộ lê từng bước, chậm chạp nhưng bán nhanh hết. Gặp ai cũng giơ xấp vé số ra mời, cười rất hiền. Người ta mua cũng là để ủng hộ. Ông thường đi ngang qua nhà tôi. Ba tôi mua ủng hộ hai vé 10.000 đồng nhưng bao giờ cũng dúi 20.000 đồng vào túi ông: “Cháu biếu cụ để lấy hên tối nay trúng”. Ông cười hiền: “Cảm ơn cậu”. Tiếng bước chân chậm rãi xa dần, ba tôi lắc đầu: “Sao còn nhiều cảnh đời thảm quá”.
Vậy mà ông bị người ta giật tiền, giật vé số ở chợ là chuyện có thật, xảy ra thường xuyên. Biết ông bị điếc, mắt mờ, nhiều người cầm tập vé số giả vờ mua rồi đi luôn. Có bà thấy “tội” nói: “Ông đưa con đếm tiền cho” rồi bỏ vào túi như của mình. Đã mấy lần ông đứng khóc giữa chợ. Tiền đâu trả cho đại lý? Không trả mai không được nhận vé đi bán. Tiền đâu mua gạo cho vợ con? Nhiều chị ở chợ thấy thương, mỗi người vài ngàn đồng góp lại cho ông. Sáng hôm sau người ta lại thấy ông cầm tập vé lê từng bước trên phố.
TRƯỜNG ĐĂNG


9 tháng 11, 2011

Người mẹ của 166 đứa con

TT - Bà ngồi chết lặng bên bậu cửa, khóc con! Một trong 166 đứa con của bà đã ra đi trong đêm bão về. Cả cuộc đời vất vả, chịu đựng trái ngang để cưu mang 166 trẻ bất hạnh, bà đã coi chúng như chính đôi mắt, bàn tay, bàn chân nối liền máu xương mình.




Lớn tuổi, ốm đau nhưng bà Hương vẫn làm việc để nuôi con  - Ảnh: Quốc Việt




Con bệnh, bà cũng bệnh theo. Con xuôi tay giã từ kiếp sống khổ đau này, bà như chết cùng với con. Cánh cửa xiêu vẹo bằng tre nứa của cơ sở nuôi trẻ khuyết tật Thiện Giao (Đồ Sơn, Hải Phòng) tả tơi sau ngày mưa bão. Đám trẻ đứa bò lổm ngổm, đứa teo chân, vẹo tay, hư mắt túa ra đón khách: “Chào danh, chào dác, chào dú aaa...”. Tôi lặng nhìn những gương mặt trẻ mê dại, nghe những giọng nói ngọng nghịu không tròn tiếng. Bà gạt nước mắt: “Anh đem đến niềm vui bất ngờ cho các con tôi đấy. Ở đây ít khách lắm!”.

Tình thương và số phận
Ngược lại thời chiến năm 1972, bà còn là cô chiến sĩ xinh đẹp Trần Thị Thanh Hương trên tuyến lửa. Một lần về phép đến Quảng Trị, đồng đội bị thương nặng đã gửi hai con cho cô. Bặm môi đến bật máu để khỏi bật tiếng khóc trước người lính, cô hứa mình còn thì chúng còn, dù thế nào cũng nuôi nấng chúng nên người. Không bế hết được, cô đành bỏ hai bé vào hai sọt đầu đòn gánh rồi gánh về hậu phương. Hình ảnh lạ lẫm của cô lính trẻ lúc thì oằn vai gánh gồng, khi lấy lưng che bom cho con, rồi vạch cả vú không sữa để cố dỗ chúng nín khóc đã làm nhiều ánh mắt xót xa lẫn nghi ngại. Con ai hay chính con cô lính này?
Tình thương yêu trẻ thơ hay nghiệp số cô bắt đầu từ đó. Hòa bình. Đồng đội là thương binh, nạn nhân chất độc da cam hoàn cảnh khó khăn thấy cô Hương nuôi trẻ mát tay lại gửi con cho cô. Hầu hết chúng cũng khổ đau khi mang mầm bệnh của cha mẹ trong chiến tranh. Gái không chồng nuôi một, hai con đã khổ, đằng này cô lại nuôi cả đàn con thiểu năng, què, liệt, nhọt mụn đầy người. Nhưng cô lại khổ thêm với miệng lưỡi trần gian. Người hiểu cô ít, kẻ nghi ngại cô thì nhiều. Họ gọi cô là Hương dở hơi, Hương chập mạch đủ cả. Oái oăm, có người còn nghi ngờ đám trẻ bất hạnh đó có cả con cô. “Chắc kiếp trước nó ở ác lắm mới bị đọa thế”.

Đời cô càng buồn khi những người đàn ông đến với cô đều ra đi. Có anh văn công rất thương cô, đã đập vỡ quà kỷ vật tình yêu: “Anh quý lòng tốt của em. Nhưng em phải chọn hoặc anh hoặc đám trẻ này!”. Cô gạt nước mắt lắc đầu, và người đó lại tiếp tục ra đi!
Rồi cuộc đời con gái xuân trẻ của cô cứ thế lặng lẽ qua dần bên những đứa trẻ kém may mắn. Có đồng đội thương bệnh binh gửi con cho cô nuôi giúp dăm ba năm lúc khó khăn rồi nhận về lại. Có người đến khi nhắm mắt xuôi tay đành để con cho cô nuôi luôn. Tất cả 166 lượt trẻ, cô đều coi như con máu mủ mình và chúng cũng yêu thương gọi cô là mẹ, tiếng mẹ dại mê, ngọng nghịu mà cô đi đâu không được nghe là nhớ đứt ruột!

Thiếu tá Phan Thị Len, đoàn 295, nói: “Đến thăm cơ sở nuôi dạy trẻ em bất hạnh của chị Hương mà tôi không kìm được nước mắt. Tôi cũng là mẹ, nên chỉ nghe tiếng mẹ con chan chứa tình thương gọi nhau là tôi biết tấm lòng của chị với các cháu mà chị đã nhận làm con mình. Lớn tuổi, ốm đau, chị Hương chẳng có tài sản gì ngoài đàn con yêu thương của mình”. Thiếu tá Len vừa về hưu, cũng phát tâm về cơ sở Thiện Giao để phụ nấu nướng cho các cháu.
Đầu đông năm 2011 này, cô Hương xinh đẹp ngày nào đã sang tuổi 61. Cái tuổi mà có người đã nói: “Bà Hương dở hơi đã xé toạc cả đời mình cho chuyện người dưng nước lã”. Còn bà thì đủ trải nghiệm để trả lời: “Nếu có thêm một kiếp nữa, tôi vẫn nguyện hi sinh cho các con”. Bà thẳng tính, có lần đã đuổi thẳng một đoàn đến thăm, ngỏ ý sẽ trao tiền tặng nếu bà chịu ngầm chia lại một nửa cho họ. Nhưng cũng nhiều khách đến thấy tình cảnh và quý lòng bà đến mức xin làm chị, làm mẹ kết nghĩa.


Thương con, bà cũng mệt đứt hơi với chúng. Cái Hạnh lớn tồng ngồng mà đi ngoài chẳng biết tự vệ sinh, chỉ biết quẳng cả cái quần vì bẩn. Riêng việc tìm giặt quần, nhiều bữa bà phải bỏ cơm vì ăn không nổi. Rồi cậu Trầm, “kỹ sư”... phá, thích xem tivi nhưng đập nát ngay để tìm “thằng người” trong tivi. Bà mua quạt cho các con ngủ mát, nhưng ngay sau đó phải lặn hụp xuống ao mò vì Trầm “dọn nhà cho mẹ da”. Cả cu Tuyền hiền như con gái mà bà cũng không dám rời xa. Cứ trời nóng lên là Tuyền lại tự đấm vào mặt mình. Thương nhất là bé Đạt bị thiểu năng, rất mê mưa, cứ mỗi lần mưa là lại lẻn ra trời. Trận bão rồi, trong lúc bà cuống cuồng giữ mái nhà cho các con khỏi ướt thì Đạt lẻn ra lúc nào không biết. Tan bão, mọi người phát hiện Đạt cứng đờ dưới ao. Đến giờ kể chuyện Đạt, bà vẫn chảy nước mắt khóc con!

Hoa vẫn nở trên sỏi đá
Vất vưởng nhiều nơi, làm đủ nghề để nuôi đàn con đông, mười năm gần đây bà Hương chuyển về mảnh đất cằn cỗi gần nghĩa trang Đồ Sơn. Nhiều lần sẻ cả chén cơm cho con, chiếc nhẫn, sợi dây vàng phòng thân dành dụm mãi mới được, bà cũng bán sạch để mua gạo. Nhưng bà không cho phép mình gục ngã. Quây mảnh vườn bà trồng rau cải, rồi nuôi cá, chăm đàn lợn đẻ kiếm thêm thu nhập. Ông trời có mắt! Ngày xưa bà bước vào chuồng lợn còn bị mắng té tát vì “số độc” làm chết lợn người ta. Thế mà giờ chăm lợn để nuôi con, lợn cứ ủn ỉn đẻ liên tục.
Gần đây, bà học thêm nuôi nấm linh chi. Các con thiểu năng, khuyết tật hè nhau lấy cho heo ăn, rồi... đổ cả xuống ao, kể cả chọc thủng bao “tìm con lợn nấm đẻ từ đâu”. Thế rồi, thấy mẹ buồn, ngồi khóc bên nhà nấm bị phá tan hoang, đám con dại mê lại đâm tỉnh. Chúng vỗ về bà: “Các don xin dỗi mẹ da, mẹ dà...”. Rồi chúng tẩn mẩn phụ bà trồng lại. Hình như có việc động não, động tay làm chúng đỡ ốm đau và cũng tỉnh người. Về sau, nhiều đứa còn biết trồng rau, cho lợn ăn phụ mẹ, dù thi thoảng lại bốc trộm thức ăn lợn bỏ vào miệng mình.
Thấy các con có việc làm, khỏe ra, bà Hương mừng lắm. Nhưng bà vui nhất là dạy các con thiểu năng bập bẹ biết chữ. Ban đầu bà gửi chúng đến trường. Kiếm tiền mua cả xấp vé xe buýt tháng mà mỗi vé đến 200.000 đồng đã khó, bà còn khổ sở chuyện quản lý đám trẻ thiểu năng, ốm đau cứ rời mẹ một lát là nhặng xị lên như ong vỡ tổ. Học ở trường không nổi, bà dạy học ở nhà. Năn nỉ ỉ ôi đến nghiêm cỡ nào cũng không được, bà phát hiện cách dạy độc đáo. Thì ra dù bị ốm đau, thiểu năng nhưng chúng vẫn có khiếu, chăm chỉ với những chuyện tỉ mỉ. Thấy các con mê nghịch điện thoại di động của mình, bà mua trả góp cả đống điện thoại cũ, rẻ tiền, rồi phát mỗi đứa một cái. Học viết chữ, đọc chữ trên bảng thì khó, nhưng học nhắn tin điện thoại thì đứa nào cũng tranh học. Ban đầu chỉ vài chữ “Don chào mẹ, chào danh, chào dị”, thế mà chỉ vài tháng có đứa đã bập bẹ đọc được.

                               Bà Hương (đứng) chăm lo bữa ăn cho các con hằng ngày - Ảnh: Quốc Việt

Quốc Việt