Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

30 tháng 10, 2011

KIẾP NGƯỜI MONG MANH

Khi một người nằm xuống, con người hoàn toàn bất lực trước cái chết. Không một sức mạnh nào nơi trần gian có thể thay đổi được sự thật này. Vì đó là chân lý. Vì đây là mầu nhiệm.


Bất lực
Chân lý về sự chết. Chân lý này biến thành mầu nhiệm đến độ, ta chỉ có thể giải thích được trong sự chết và phục sinh của Chúa Kitô mà thôi. Trong Ngài, ta mới có câu trả lời đầy đủ về sự vận hành của vũ trụ vạn vật. Như trái đất xoay quanh mặt trời thế nào, thì con người cũng phải xoay quanh Chúa Kitô như vậy. Vận hành của vạn vật là có khởi sự thì cũng có kết thúc. Vạn vật từ Ngài mà ra, thì khi đến thời gian ấn định, cũng sẽ phải trở về với Ngài.
Vận hành này không ai có thể thay đổi hay ngăn cản được. Bởi đây là hành trình hoàn hảo nhất mà Ngài đã khôn ngoan sắp đặt để có phần tốt nhất cho con người.
Đứng bên cạnh người thân yêu là cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em hay bạn bè thân thiết, là nỗi mất mát và đớn đau nhất mà chẳng lời lẽ nào có thể diễn tả hết. Nỗi đau này ai cũng có. Và nỗi đau này chỉ được trả lời bằng kinh nghiệm của mình mà thôi.
Đứng bên người thân, ai cũng phải thương tiếc, nhớ nhung, lưu luyến, ngậm ngùi. Và đổi lại sự sống của người thân, chắc chắn dù có phải làm gì, tốn bao nhiêu tiền, hao bao nhiêu lực hay đổi bằng mạng sống của mình thì ta cũng sẵn lòng. Nhưng rồi, đó cũng chỉ là lý thuyết, là ước mong mà thôi, còn sự thực thì lại không bao giờ xảy ra.
Nhìn người thân từ từ rời xa mình mà không thể làm gì được thì thật đắng cay. Chẳng thà mất hết tiền bạc mà còn người thân thì hơn.
Mất tiền mất bạc là những thứ ngoài thân mà ta còn đau lòng, đây còn đau hơn cả trăm triệu lần. Vì sự mất mát này đụng chạm tới tâm hồn, tinh thần, tới máu huyết của mình.
Mất người thân. Ôi nỗi đau nào kể xiết, và ai chia sẻ nổi. Ôi Chúa ơi, đứng trước cái chết chúng con có thể làm được gì đây.
Bất toàn
Nhìn vào một thân xác bất động từ từ rời xa ta, tan rã dần rồi trở thành cát bụi. Mọi thứ dần vuột khỏi tầm tay mà không có cách nào níu kéo được. Sự thật này càng minh chứng cho ta biết về sự tương đối của vạn vật. Tất cả đều là bất toàn. Chính vì thế, chúng cần phải được nâng cao hơn bằng bằng sự thay đổi của Đấng Tối Cao cho vạn vật. Nhờ vậy càng giúp ta nhận ra rõ hơn về sự thật mong manh của kiếp người.
Càng nhìn vào thân phận con người, ta càng thấy sự bất toàn, tương đối và hạn hữu.
Về thời gian: thật ngắn ngủi khi ở trần gian.
Về sức khỏe: dù được bảo vệ và chăm sóc, song vẫn rất dễ nhiễm bệnh, xuống cấp, rồi chết.
Về tinh thần: mọi chuyển biến do thời tiết thiên nhiên, do kinh tế xã hội, do đấu tranh khủng bố, do đói nghèo bệnh tật, do gia đình hay người thân…đều làm cho tâm hồn xao xuyến, tinh thần sa sút, tình cảm sứt mẻ…
Về trí tuệ: khối óc mà Thiên Chúa ban cho, con người cũng chưa thế thể khai thác quá 20%.
Về lòng tin: Dễ nghi ngờ Chúa, nghi ngờ nhau.
Về nhân đức: chỉ vài nhân đức căn bản làm người như nhân nghĩa lễ trí tín, lòng tự trọng… mà con người cũng chẳng đạt được một cách đầy đủ.
Càng nhìn vào kiếp người, ta càng thấy sự yếu đuối nhiều hơn nữa. Con người dễ bị tấn công bởi người xấu, việc xấu. Con người có quá nhiều sai sót, lầm lỡ, tội lỗi. Sự dữ bao trùm tư tưởng và việc làm, khiến ta nhiều lần nhiều lúc, nhiều nơi đã gây khổ cho mình và cho người khác.
Chính vì sự bất toàn này giúp ta nhận ra sự thật tuyệt đối về Thiên Chúa được rõ nét.
Chỉ trong Ngài, con người mới tìm lại được sự tốt lành Ngài đã ban thuở ban đầu.
Chỉ trong Ngài, con người mới được phát triển và thăng tiến, rút ngắn khoảng cách giữa tương đối và tuyệt đối, hữu hạn và vô hạn, bất toàn và an toàn.
Chỉ trong Ngài, con người mới nhận ra sự mong manh của kiếp người, để cần thiết phải cậy dựa và gắn bó và yêu mến Ngài thì mới được an toàn, an tâm, an bình. Gắn bó như mẹ yêu con, như cá yêu sông, như ong yêu hoa, như cỏ cây yêu đất, và…như Chúa đã yêu ta.
Bất xứng
Sự bất toàn giúp ta nhận ra sự bất xứng của loài người đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng đã vì tình yêu mà chia sẻ sự sống thần linh cho con người, và cũng vì thế mà Ngài bị bị xấu hổ, nhục nhã. Con người bất xứng đã làm cho hình ảnh tốt lành, thánh thiện của Thiên Chúa bị lu mờ, hoen ố, hư hỏng.
Như con cái đã làm cho cha mẹ xấu hổ bằng đời sống bất kính, bất hiếu, vô ơn, cứng đầu, bê tha thế nào, thì con người cũng đã làm cho Thiên Chúa phải xấu hổ bằng đời sống kiêu căng tự phụ, hống hách, ác độc, cố chấp, tội lỗi của mình như vậy.
Đứng trước Đấng uy linh và uy quyền, cao cả và lớn lao, thánh thiện và hoàn hảo, tinh tuyền và thanh khiết, ta mới thấy sự nhỏ bé và yếu đuối, bất toàn và bất xứng, mong manh và chóng tàn, tương đối và mau qua của kiếp người.
Nhất là con người làm tổn thương Thiên Chúa, đụng chạm đến sâu thẳm tâm hồn yêu thương của Ngài bằng thái độ dửng dưng, coi thường, khinh chê, chống đối, phá hại.
Con người ngày nay càng biểu dương tự do cá nhân bao nhiêu thì càng cho thấy con người muốn tách ra khỏi sự quan phòng bấy nhiêu. Càng sử dụng trí tuệ, khoa học để giải thiêng, loại trừ các giá trị Tin Mừng, thì càng cho thấy con người càng kiêu căng bấy nhiêu. Và con người đã dần trở nên bất xứng nhiều hơn với Thiên Chúa khi cậy dựa các thế lực trần thế để thay thế cho sức mạnh của Ngài.
Bất hạnh hay bất tử?
Đứng trước vũ trụ thiên nhiên, đặt mình trước Đấng Toàn Năng, con người thấy rõ mình bất toàn, bất xứng, bất lực.
Dầu vậy, con người hoàn toàn có cơ hội để thay đổi và vượt lên trên cái tương đối và hữu hạn của kiếp người mà đạt tới sự bất tử, thay vì bất hạnh.
Bất hạnh hay bất tử, tất cả tùy thuộc vào ta. Nếu biết mình yếu, bất toàn bất xứng mà cứ cậy bản thân, không biết dựa vào Đấng có sức mạnh hơn, thì tình thế sẽ chẳng thay đổi được gì.
Ngược lại, biết mình yếu mà nắm chặt tay Đấng uy quyền; biết mình dở mà dựa vào Đấng khôn ngoan; biết mình mau hư nát mà bám vào Đấng vĩnh cửu; biết mình có thể bất hạnh bất cứ lúc nào mà bám vào Đấng có thể chữa lành những tổn thương ấy; biết mình nhỏ bé như hoa cỏ đồng nội nay còn mai mất mà nép mình vào Đấng uy quyền, thì đời ta sẽ được thay đổi.
Nhờ biết cậy dựa vào Thiên Chúa quan phòng, ta sẽ được thay đổi tử bất hạnh thành bất tử, bất toàn thành an toàn, bất xứng thành xứng đáng, mong manh thành mạnh mẽ, ngắn hạn thành vô cùng, chóng qua thành bền vững, sợ hãi thành can đảm, thất vọng thành hy vọng, phiền muộn thành hân hoan, nghi ngờ thành tin tưởng.
Tất cả tùy thuộc vào ta: Hôm nay ta thế nào là do chọn lựa và quyết định của ta hôm qua thế nào. Tương lai ta thế nào, tùy thuộc vào chọn lựa và lối sống của ta hôm nay ra sao.

[THANH THANH]
Tác giả bài viết: Thanh Thanh

VIÊN ÐÁ QUÝ


Edith Stein, đó là tên của một người đàn bà mà chúng ta thường nghe nhắc đến nhiều lần nhân chuyến viếng thăm lần thứ hai của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại Tây Ðức năm 1987.
Stein theo tiếng Ðức có nghĩa là đá. Ðây không phải là một viên đá tầm thường, nhưng là một viên ngọc quý đã được tôi luyện giữa lò lửa của hận thù, chiến tranh. Viên ngọc quý Stein đã được gọt đẽo và nung nấu trước tiên trong sự dửng dưng vô tôn giáo của những trào lưu tục hóa sau đệ nhất thế chiến.
Lên 14 tuổi, Edith Stein đã mất hòa toàn niềm tin vào Thiên Chúa của tổ phụ Arbaham. Nhưng cho dù con người có chối bỏ Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn tiếp tục theo đuổi con người. Cuộc săn đuổi kỳ diệu ấy đã đưa con người đến ngõ cụt của cuộc sống. Nhưng chính khi đứng trước bức tường tưởng chừng như khôg thể vượt qua được, Thiên Chúa đã đưa cánh tay của Ngài ra để nâng con người lên. Ðó là điều đã xảy ra cho Edith Stein khi cô chứng kiến gương kiên nhẫn của một người thiếu phụ Công Giáo. Chiến tranh đã cướp đi người chồng thân yêu, người đàn bà ấy vẫn lấy Ðức Tin vào Chúa Kitô để vượt thắng mọi đau khổ, thử thách... Edith Stein thú nhận: Thập giá của Ðức Kitô đã đem lại sức mạnh kiên hùng cho người phụ nữ và do đó, cũng phá vỡ bức tường cứng lòng tin của cô.
Trong ánh sáng của thập giá Ðức Kitô, Edith Stein đã tìm lại được niềm tin vào chính Thiên Chúa của người Do Thái... Nhưng ánh sáng đó đã gắn liền với cả cuộc đời còn lại của cô như một định mệnh: Giữa những đổ vỡ và tàn ác của chiến tranh, Edith đã tìm lại được định hướng cho cuộc đời. Thánh giá đã được gắn liền với tên cô từ đó: Têrêxa Benedicta Della Croce, Têrêxa được thập giá chúc lành.
Thập giá của Ðức Kitô mà cô đã vác lấy qua cái chết đau đớn trong lò hơi ngạt tại trại tập trung Auschwitz đã biến cô trở thành một viên ngọc quý có giá trị cứu rỗi cho cả một dân tộc mà cô hằng yêu mến.
Ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có thập giá. Ðã mang tiếng khóc vào đời, con người tiến bước trong cuộc sống với tất cả gánh nặng của thập giá... Tại sao Thiên Chúa đã để cho con người phải đau khổ? Mãi mãi dường như con người sẽ không bao giờ tìm được câu giải đáp cho vấn đề đau khổ. Chúa Giêsu không bao giờ đặt vấn đề và cũng không bao giờ đem lại một giải đáp cho vấn đề.
Trong thinh lặng, Ngài đã vác lấy thập giá và khi sống lại, Ngài cho chúng ta thấy rằng thập giá là con đường dẫn đến sự sống. "Hãy vác lấy thập giá và theo Ta", đó là lệnh truyền của Ngài. Mang lấy thập giá với tinh thần chấp nhận và mến yêu, chúng ta sẽ thấy ánh sáng bừng lên trong cuộc sống. Mang lấy thập giá, chúng ta sẽ thấy Tình Yêu mạnh hơn sự chết. Mang lấy thập giá, chúng ta sẽ chiến thắng được hận thù và thất vọng.




Tác giả Veritas



29 tháng 10, 2011

HỌ NÓI MÀ KHÔNG LÀM

Photobucket


DANH NGÔN

Biết được người hay  người dở ấy là khôn
Tự biết mình hay mình dở ấy là sáng suốt.
*******


Một người có học lúc nào cũng tự thấy mình giàu sang.
PHÈDRE




Những kẻ giả hình

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 23,1-12) là phần bắt đầu của những lời khiển trách dài và mạnh mẽ của Đức Giêsu đối với các kinh sư và những người Pharisêu.

“Bấy giờ, Đức Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ của Người” (c.1). Để bắt đầu, Đức Giêsu không ngỏ lời với các kinh sư và những người Pharisêu, mà là với đám đông dân chúng và với các môn đệ của Người. Điều này cho thấy mục đích của những gì được nói ở đây chính là để giúp đám đông và các môn đệ Đức Kitô nhận ra thực chất của những gì các kinh sư và người Pharisêu giảng dạy, và để giúp họ được giải thoát khỏi những cái ách nặng nề mà những người đó đã và đang áp đặt trên họ.

Trước hết, Đức Giêsu đưa ra một nhận xét về vị trí mà các kinh sư và người Pharisêu đang nắm giữ. Người nói: "Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy” (c.2). Trong truyền thống Do Thái, ông Môsê được coi là một vị thầy có tòa trên núi Sinai. “Ngồi trên tòa ông Môsê” có nghĩa là tiếp nối chức năng làm thầy của ông Môsê. Trong Đnl 18,15.18 những người kế nghiệp ông Môsê là các ngôn sứ. Nhưng rồi “ngồi trên tòa Môsê” trong thực tế lại là những kinh sư và những người Pharisêu. Từ trên tòa ông Môsê, các kinh sư và người Pharisêu phân biệt 613 điều khác nhau trong Luật và bảo rằng tất cả những điều đó đều bó buộc. Nếu các ngôn sứ quy hướng người ta về Thiên Chúa (và đây chính là nét điển hình của các ngài), thì các kinh sư và người Pharisêu lại thay thế vào đó bằng sự quy chiếu về một bộ luật được quy định và giải thích chi tiết, trình bày đến từng nố cụ thể đó. Như chính Đức Giêsu đã từng nhận định: “Giáo lý họ giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (15,9). Đọc trong cách nhìn chung của toàn bộ sách Mt, xem ra phía dưới lời nhận xét của Đức Giêsu rằng "Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy” ở c.2 này, như thế, là một nhận xét tiêu cực, và sự kiện các kinh sư và người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê bị coi là một sự kiện “tiếm vị” trong thực chất.

Sau khi đã nhận xét về vị trí của các kinh sư và người Pharisêu, Đức Giêsu bắt đầu lời phê bình. Người nói: “Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (c.3).

Nhiều người hiểu phần thứ nhất của c.3 là một lời khen ngợi của Đức Giêsu, và như thế, vấn đề của các kinh sư và người Pharisêu chỉ là họ nói mà không làm. Nhưng có lẽ cách hiểu đó không chính xác.

Thực ra, câu này mang tính châm biếm rất ý nhị. Phần thứ hai của câu có giá trị vô hiệu hóa “lời khen” ở phần thứ nhất. Vì chưng không ai có thể coi là có giá trị những lời giáo huấn và giải thích về thánh ý Thiên Chúa của những người mà mình biết rõ là hoàn toàn giả hình. Cách giải thích này được xác nhận bởi sự kiện là Đức Giêsu đã chê trách không chỉ cách sống mà ngay cả giáo thuyết và đạo lý của những người Pharisêu nữa. Người bảo: “Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố” (15,14). Người khẳng định rằng khi giảng dạy dân chúng, họ dựa vào truyền thống của họ mà hủy bỏ lời Thiên Chúa (x.15,6-9). Người dặn các môn đệ một cách rõ ràng là phải coi chừng giáo lý của những người Pharisêu và những người Xađốc (x.16,12). Người không ngần ngại nói rằng họ khóa cửa Nước Trời không cho người ta vào (x.23,13), làm cho người ta phải sa hỏa ngục (x.23,15), rằng họ chỉ là những kẻ dẫn đường mù quáng (x.23,16)... Vì thế, sẽ là sai lầm nếu chúng ta hiểu rằng Đức Giêsu đồng ý với những giáo huấn mà các kinh sư và người Pharisêu giảng dạy, và rằng Người muốn đám đông dân chúng và các môn đệ đang nghe Người hãy thực hành theo các giáo huấn đó.

Khi giảng dạy dân chúng, các kinh sư và người Pharisêu “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (c.4). Đức Giêsu phê bình tính chất nặng nề trong lời giảng dạy của các kinh sư – Pharisêu và sự vô cảm của họ. Khác hẳn những gánh nặng mà các kinh sư chất lên vai người ta, Đức Giêsu sẽ mang đến cho người ta “ách êm ái và gánh nhẹ nhàng” (11,30).

Giáo lý của các kinh sư và người Pharisêu là những gánh nặng mà người ta không thể mang nổi. Trong những nỗ lực lớn lao nhưng sai lầm, các kinh sư Do Thái cố gắng bảo vệ sự tuân phục Torah bằng cách dùng cả một rừng những quy định chi tiết thuộc truyền thống của họ để giải thích Torah, và trớ trêu thay, những lời giải thích ấy lại làm tiêu tan luôn giá trị của những gì họ định giải thích. Kết quả sẽ chỉ là những gánh nặng không thể chịu nổi, và trong nhiều trường hợp, là sai lầm.

Cùng với sự sai lầm và nặng nề ấy, là thái độ vô cảm của những người đưa ra những giáo lý đó. Họ không giúp người ta mang gánh nặng mà họ đã chất lên vai người ta. Họ không giúp dân chúng tuân giữ những giáo huấn nặng nề của họ. Thậm chí họ cũng còn chẳng buồn đưa ngón tay lay thử. Rõ ràng họ không muốn giúp người khác sống thánh ý Thiên Chúa, một chỉ muốn thống trị người ta bằng giáo lý và những “giới luật phàm nhân” (15,9) của họ mà thôi.

Đó là trong chuyện giảng dạy. Còn trong thực tế cuộc sống, họ là những người ưa khoe mình, đam mê được người khác khen ngợi và ngưỡng mộ. “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy” (c.5a).

“Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (c.5b). “Hộp kinh” là những chiếc hộp nhỏ bằng da, màu đen, bên trong chứa bản chép bốn lời Kinh Thánh Đnl 11,13-22; 6,4-9; Xh 13,2-10; 13,11-16. Người Do Thái mang những hộp kinh này trên đầu và trên cánh tay trái trong những ngày làm việc. Đây là một cách thức thi hành lệnh truyền trong Xh 13,9.16; Đnl 6,8; 11,18. “Tua áo” là dải len hay lụa màu xanh được đeo vào bốn góc áo choàng (theo lệnh truyền trong Ds 15,37-39 và Đnl 22,12) như một lời nhắc nhở thường xuyên về các lệnh truyền của Thiên Chúa mà người ta phải thi hành. Chính Đức Giêsu cũng mang những tua áo như vậy (x. 9,20; 14,36). Vấn đề không ở chỗ những kinh sư và người Pharisêu mang hộp kinh và tua áo, mà là họ cố ý mang những hộp kinh thật lớn và những tua áo thật dài, để lôi kéo sự chú ý của mọi người đến lòng “đạo đức” của họ. Thật mỉa mai khi họ chất những gánh nặng của luật lệ lên vai người khác, còn chính họ thì lại chỉ lo nới rộng hộp kinh và may dài tua áo. Hộp kinh của họ càng lớn và tua áo của họ càng dài thì cái ách luật lệ mà họ áp đặt lên dân chúng càng nặng!

Không chỉ phê bình cách trang phục của các kinh sư và người Pharisêu, Đức Giêsu còn chỉ rõ sự ham hố của họ trong việc tìm kiếm sự tôn kính của dân chúng: “Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta bái chào ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "rabbi" (cc.6-7).

Có bốn sự ham hố được đề cập ở đây. Hai sự ham hố đầu liên quan đến chỗ ngồi trong đám tiệc và trong hội đường, nghĩa là vị trí của người ta trong những cuộc tập họp dân sự và những cuộc tập họp tôn giáo. Sự “bái chào ở những nơi cộng cộng” là các cách thức bày tỏ lòng tôn kính đặc biệt dành cho những nhân vật tôn giáo nổi tiếng, chứ không phải là sự chào hỏi thông thường trong phép giao tiếp lịch sự hàng ngày. Vào thời Chúa Giêsu, “rabbi” là một tước hiệu danh dự dành cho các bậc thầy tôn giáo và các chuyên gia hàng đầu về Torah. “Ưa được người ta bái chào ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "rabbi" ” là tâm tính của những con người hợm hĩnh, ưa thống trị. Những kinh sư và người Pharisêu cố ý tạo nên những sự khác biệt và nhấn mạnh trên những gì làm nổi bật thẩm quyền của họ trong cộng đồng xã hội và tôn giáo (từ chỗ ngồi cho đến những cách chào hỏi và xưng hô), nhằm gia tăng, tận hưởng và tận dụng quyền thống trị của họ trong cộng đồng. Họ cố ý tạo ra những sự khác biệt và bất bình đẳng để che giấu những tham vọng và sự rỗng tuếch của mình.

Sau khi chỉ trích những tham vọng, tâm tính và thói xấu đó của các kinh sư và người Pharisêu, Đức Giêsu ngỏ lời với các môn đệ. Tuy bản văn không nói rõ, nhưng chắc chắn cc.8-12 là những lời dành riêng cho các môn đệ và cộng đoàn Hội Thánh.

"Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "rabbi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau” (c.8). Trong cộng đoàn của Đức Giêsu, không ai có quyền ở vào một thứ hạng hay ưu thế cao hơn người khác, cũng chẳng ai phải tùy thuộc người khác về đạo lý: chỉ có một Thầy duy nhất là chính Đức Giêsu, còn tất cả các Kitô hữu đều bình đẳng với nhau và là anh em của nhau. Quả thực, chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể mạc khải về Chúa Cha cho con người: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (11,27).

“Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời” (c.9). “Cha” ở đây không có nghĩa là người sinh ra mình, nhưng là một tước hiệu tôn kính được dành cho các bậc thầy và các thành viên của Thượng Hội Đồng Do Thái (Cv 7,2; 22,1). “Cha” nghĩa là người lưu chuyển truyền thống và khuôn mẫu hành xử. Đức Giêsu cấm các môn đệ không gọi ai dưới đất này là cha, tức là không được đặt mình tùy thuộc vào những người lưu chuyển truyền thống và khuôn mẫu hành xử thuộc về cõi trần gian này. Các môn đệ sẽ chẳng có khuôn mẫu hoàn thiện nào khác ngoài chính Cha trên trời: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (5,48). Chỉ một mình Ngài mới là Cha của họ (6,9).

“Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người chỉ đạo, vì anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đức Kitô” (c.10). Đức Kitô dành riêng cho mình quyền lãnh đạo và hướng dẫn trên con đường cứu độ. Các môn đệ chỉ là những người phục vụ anh em mình, chứ không phải là người chỉ đạo, cho dù giữa họ vẫn có người “làm lớn”: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (c.11).

“Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (c.12). Thay vì tâm tính và tham vọng thống trị và “tôn mình lên”, Đức Giêsu công bố nguyên tắc phải theo trong cộng đoàn các đồ đệ của Người: “hạ mình xuống”. Các động từ trong hai mệnh đề chính ở c.12 này được đặt ở dạng thụ động thần học thời tương lai, và do đó, có nghĩa là chính Thiên Chúa sẽ hạ những kẻ tự tôn xuống và sẽ tôn những kẻ tự hạ lên. Lời tuyên bố nguyên tắc này của Đức Giêsu cũng đồng thời là lời công bố phán quyết của Thiên Chúa về các thái độ sống của con người.

Gợi ý suy niệm và chia sẻ:
1. Đức Giêsu phê phán việc các kinh sư và người Pharisêu lợi dụng tòa ông Môsê để trục lợi cho riêng mình. Những vị trí công tác trong Hội Thánh ngày nay cũng có thể bị biến thành những “miếng mồi” ngon cho những tham vọng vật chất, tham vọng quyền lực, tham vọng danh tiếng...

2. Đức Giêsu phê bình tính chất nặng nề trong lời giảng dạy của các kinh sư – Pharisêu và sự vô cảm của họ trong việc thi hành nhiệm vụ phục vụ lời Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta, trong những vị trí khác nhau (giám mục, linh mục, bề trên, thày dạy, cha mẹ, anh chị, giáo lý viên...) đều tham dự cách này cách khác vào nhiệm vụ giảng dạy của Hội Thánh. Lời phê bình của Đức Giêsu đối với các kinh sư xưa có thể vẫn còn rất thời sự: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (c.4).

3. Các kinh sư và người Pharisêu đã cố ý tạo nên những sự khác biệt và nhấn mạnh trên những gì làm nổi bật thẩm quyền của họ trong cộng đồng xã hội và tôn giáo (từ cách ăn mặc và chỗ ngồi cho đến những cách thức chào hỏi và xưng hô), nhằm gia tăng, tận hưởng và tận dụng quyền thống trị của họ trong cộng đồng. Họ cố ý tạo ra những sự bất bình đẳng để che giấu những tham vọng và sự rỗng tuếch của mình. Đức Giêsu mạnh mẽ chỉ trích cách sống đó. Nhưng có lẽ không chỉ các kinh sư và người Pharisêu Do Thái xưa mới đáng bị chỉ trích như vậy.

4. Đức Giêsu công bố nguyên tắc phải theo trong Hội Thánh, và cũng là cách đánh giá của Thiên Chúa về cuộc sống của chúng ta: “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (c.12). Đức Maria là gương mẫu cho chúng ta trong việc sống theo nguyên tắc căn bản này: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo,Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,48-53).
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT


CÁC ÔNG LÀ QUÁI VẬT


Cuốn phim E.T. (nghĩa là người đến từ bên ngoài trái đất) đã là khởi đầu cho những giả thuyết về sự hiện hữu của nhiều giống người khác trên hành tinh. Chúng ta hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó những người này đến viếng thăm trái đất của chúng ta. Có lẽ họ sẽ phải học hỏi rất nhiều nơi chúng ta. Họ sẽ nghiên cứu về các tôn giáo hiện hữu trên mặt đất. Họ sẽ tra cứu mọi thứ  triết thuyết và mọi lẽ khôn ngoan cũng như bao cái điên rồ của con người� Sau cùng họ sẽ điều tra về những người Kitô và khám phá ra rằng thủ lãnh của họ là Giêsu Kitô� Chúng ta hãy thử tưởng tượng cuộc đối thoại giữa họ và những người Kitô. 
- Ông Giêsu Kitô là ai? 
Một người Kitô sẽ trả lời: 
- Ô�ng là một người Do Thái, ông đã được muôn dân trông đợi từ ngàn xưa. Ông đến như một vị tiên tri để cứu thoát trần thế. 
- Thế nhưng họ đã làm gì với ông ta? 
- Thưa, họ đã đóng đinh ông vào thập tự. 
Và một người trong cuộc đối thoại sẽ thêm: 
- Phải, có lẽ ông ta đã không đến đúng lúc. Giả như  ông đến bây giờ đây, thì mọi sự có lẽ sẽ khác� Người ta sẽ thông cảm với ông, sẽ yêu mến ông và như vậy, tình huynh đệ đại đồng như chúng ta hằng mong ước sẽ được thực hiện� Thực là đáng tiếc, ông Giêsu đã đến không đúng lúc. Thật là một tai nạn đáng tiếc. 
Một người Kitô khác có lẽ sẽ phản đối: 
- Tôi không đồng ý. Chúa Giêsu có đến lúc nào và ở đâu, thì mọi sự cũng sẽ diễn ra như thế thôi. 
Theo dõi cuộc đối thoại, không chừng người đến từ hành tinh khác sẽ phát biểu: 
- Vậy thì các ông là những quái vật. 
Có lẽ giống người của chúng ta trên mặt đất này là những quái vật. Và chính vì thế mà Chúa Giêsu đã đến để cứu độ chúng ta. Ngài đã yêu thương chúng ta. Ngài đã thể hiện lòng nhân từ đối với chúng ta, bởi vì chúng ta là những quái vật. 
Chúng ta hãy thử nhìn vào các giống vật đang chia rẽ sự  sống với chúng ta trên mặt đất này. Chúng nó có thể cắn xé những con thú khác không thuộc giòng giống của nó. Nhưng chúng nó không bao giờ giết hại cắn xé lẫn nhau. Còn giống người của chúng ta thì sao? 
Nhưng thập giá của Ðức Kitô không chỉ là một mặc khải về tính cách quái vật của con người, nó còn là một thể hiện của Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Ðó là dấu chỉ của Tình Yêu, của Hòa Bình. 
Người Kitô mang trên người, vẽ trên người, dấu thập giá để ca tụng Tình Yêu của Thiên Chúa cũng như để nói lên thiện chí xây dựng Hòa Bình của họ. 
Ước gì dấu thánh giá chúng ta làm mỗi ngày sẽ luôn nhắc nhở cho chúng ta về Tình Yêu kỳ diệu của Thiên Chúa cũng như mời chúng ta không ngừng xây dựng Hòa Bình với tất cả những người xung quanh.




Tác giả Veritas


 

Những mảnh đời rổ rá - Kỳ 2: Người mẹ kế

TT - Người phụ nữ ấy từ Hải Dương vào Đồng Nai thăm bà con, gặp một người đàn ông mang di chứng chất độc da cam có đứa con trai bị bại liệt, đứa con gái bị bệnh tâm thần.

 
Chị Lanh với hạnh phúc vun vén của mình - Ảnh: Ngọc Nga



Tất cả mọi người đều bất ngờ khi chị quyết định ở lại Đồng Nai để bắt đầu quãng đời làm mẹ, làm vợ đầy cực nhọc của mình. Đã 14 năm qua, chị Nguyễn Thị Lanh vẫn chưa hề có một phút giây nghĩ quyết định của mình là sai lầm.
Nhóm lên bếp lửa
Căn nhà chị Lanh nằm lọt thỏm giữa cánh đồng bắp tại ấp 4, Xuân Tây, Cẩm Mỹ, Đồng Nai. Nó tách biệt với những ngôi nhà khác trong ấp, từng gian nhà, cửa nẻo cứ vá víu chằng chịt. Anh Hướng, chồng chị Lanh, ngồi đờ đẫn trên chiếc ghế duy nhất trong nhà. Sức lực như đã rời bỏ cơ thể anh. Bàn tay buông giữa khoảng không thõng thượt.“Sức tui giờ nhấc tay, nhấc chân cũng khó”- anh Hướng nói bằng cái giọng ngọng nghịu.
Sau khi xuất ngũ trở về quê hương Hải Dương, anh Hướng lập gia đình với người con gái cùng quê. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn khi hai đứa con một trai một gái chào đời. Chồng cày ruộng, vợ chăn tằm dệt vải, giấc mơ suốt những năm tháng chiến tranh của anh vậy là đã trở thành hiện thực. Nhưng nào ai biết được chữ ngờ. Hai đứa con không thể khỏe mạnh như bao đứa trẻ khác, đứa bại liệt, đứa cứ ngơ ngẩn cả ngày.
Cuộc sống quá khó khăn nên anh dắt díu gia đình từ Hải Dương vào Đồng Nai mưu sinh. Anh làm cật lực để có thể vun vén cho gia đình bé nhỏ bất hạnh của mình. Nhưng không có gì sáng sủa khi anh dần mất sức lao động, chân tay bủn rủn không thể làm việc được, giọng nói bắt đầu ngọng nghịu. Sau mấy năm, anh chỉ có thể đi lại lẩy bẩy trong nhà, ngay việc cầm chổi quét nhà cũng không nổi. Đúng lúc đó người vợ bỏ ra đi. Bố nhìn con, chị em chúng nó nhìn nhau - ngơ ngác trong căn nhà trống hoác tứ tung.
Rồi một ngày, chị Lanh xuất hiện.
Từ Hải Dương, chị vào thăm người bà con ở Đồng Nai. Mấy người đồng hương thấy chị đã ngoài 30 tuổi mà chưa lập gia đình liền mai mối cho anh Hướng. Đã 14 năm trôi qua, chị vẫn không bao giờ quên được buổi chiều lần đầu tiên đến nhà anh. “Anh ngồi trong góc nhà nhìn ra cửa, thằng Bảy nằm trên chiếc giường rách nát hết hát lại khóc. Đứa chị đã lớn ngồng rồi mà ngơ ngẩn không biết nhóm bếp nấu cơm. Cái bếp lạnh teo lạnh ngắt như mấy năm rồi chưa được nhóm, gà bới tứ tung” - chị nhớ lại.
Lặng lẽ không nói một lời, kéo vạt áo lau vội giọt nước mắt, chị đi nhóm bếp, thổi một nồi cơm, nấu một nồi canh rau cho ba bố con anh ăn rồi quay về. “Đó là bữa cơm ngon nhất mà ba bố con tui được ăn từ khi mẹ nó bỏ đi”- anh Hướng không quên được bữa cơm chiều hôm đó. Trời nhá nhem tối, trên đường về nhà chị Lanh vấp ngã mấy lần, nước mắt rưng rưng.
“Lúc bà ấy đến, tui nghĩ đời nào người ta chấp nhận lấy mình. Bố thì không cầm nổi chén cơm, con thì đứa nằm một chỗ, đứa bị dở hơi. Ai mà chịu. Nấu cho bữa cơm là người ta thương mình lắm rồi” - anh Hướng nhớ lại. Nhưng sáng hôm sau, chị Lanh quay lại ngôi nhà rách nát ấy trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Chị nói với anh khỏi cần cưới hỏi làm gì, chị thương anh với hai đứa con vậy là đủ rồi.
Ngồi bên người chồng bệnh tật, chị Lanh nhìn cậu con trai nằm ngửa trong lòng mình, cười bẽn lẽn: “Khi đó bước vào căn nhà rách nát, nồng nặc mùi nước tiểu, ba bố con anh ngồi nhìn nhau đờ đẫn, tui chỉ thấy thương như ruột thịt của mình”. Chị trở thành vợ, thành mẹ như thế. Bếp lửa mỗi tối lại được nhóm lên.

Mẹ kế và con chồng... - Ảnh: Ngọc Nga


Hạnh phúc nơi góc bếp
Chấp nhận làm vợ, làm mẹ của gia đình bất hạnh ấy chị Lanh mặc bao lời gièm pha “nuôi chồng nuôi con người dưng”. Chị chỉ nghĩ đơn giản: “Số kiếp mình đã nhỡ nhàng chẳng mong được chăm sóc, chỉ mong có một mái ấm để vun vén. Tối về đỏ lửa thổi cơm, sáng dậy quét tước cửa nhà vậy là vui lắm rồi”. Chính ước mơ ấy đã khiến chị ở lại với bố con anh mười mấy năm nay, làm lụng quần quật mà không một lời than trách. Vẫn thấy cuộc đời mình ấm áp khi tối về còn được đỏ lửa, bón cơm cho con, bưng nước cho chồng.
Con trai anh Hướng, Phạm Văn Bảy, năm nay đã 28 tuổi, nằm một chỗ, nói cười như đứa trẻ chỉ mới lên ba. “Thương mẹ Lanh lắm, mẹ Lanh cho ăn cơm nè, tắm nè, thay đồ nè. Mẹ Lanh không bỏ bố con Bảy đi đâu nhé. Mẹ Lanh đi làm về có bánh để ăn nữa. Thương mẹ Lanh lắm”. Bảy vỗ tay nói thật to. Chị Lanh nở nụ cười khi nghe những lời đó của Bảy vọng ra, ánh mắt chị lấp lánh niềm hạnh phúc. Niềm hạnh phúc khi chấp nhận hi sinh để yêu thương.
Đất đai không có, chị đi làm thuê cho người này đến người khác khắp trong xã. Từ phơi sắn, bóc vỏ hạt điều đến trồng rau, nhổ cỏ... ai thuê gì làm nấy. “Chịu khó thì mới có đủ cho mấy bố con có miếng ăn. Bệnh tật mà nhiều lúc ăn uống kham khổ tội nghiệp lắm” - chị Lanh tâm sự. Ngày nào cũng vậy, chị phải thức dậy từ 4 giờ sáng để chuẩn bị cơm buổi sáng, buổi trưa cho cả nhà rồi đi làm. Tối về chị lại giặt giũ cơm nước, lau dọn nhà cửa. Một ngày của chị không có phút ngơi nghỉ nào cho riêng mình.
Hôm chúng tôi đến nhà, chị đang đi khắp nơi để tìm cô con gái năm nay đã 33 tuổi bị tâm thần bỏ nhà đi hai hôm nay. Về nhà chị buồn rầu vì vẫn chưa có tin tức gì của con gái. Lo cơm nước buổi trưa cho bố con xong, chị lại vội vã đi lấy thuốc cho cậu con trai mấy hôm nay đang lên cơn sốt. Trong góc nhà, mẻ hạt điều nhận bóc vỏ đang làm dở.
Cuộc sống gia đình một tay chị chăm lo gánh vác. Ngoài khoản trợ cấp nạn nhân chất độc da cam 250.000 đồng/tháng của Bảy ra, cả nhà chỉ biết nhìn vào số tiền làm mướn của chị. Những lúc bố con anh đi bệnh viện, chị chỉ biết chạy vạy khắp nơi vay tiền. Cuộc sống cứ vậy, thiếu trước hụt sau. Đôi lúc cảm thấy mệt mỏi nhưng không bao giờ chị định bỏ đi. “Ốm đau khỏe mạnh gì thì cũng là chồng mình, con mình mà!".
***
Mấy hôm nay mẹ chị ở Hải Dương đang ốm, chị nóng ruột muốn về thăm mẹ nhưng chưa biết gửi chồng, gửi con cho ai để đi được. Lòng chị chất chứa bao nỗi lo. Nỗi lo nào cũng nặng trĩu...
NGỌC NGA