Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

1 tháng 11, 2011

DANH NGÔN

Lễ độ là nghệ thuật làm vừa lòng người khác khi nói chuyện.
Ai làm ít người mất lòng nhất là người được dạy dỗ nhiều nhất.
*******


Không có việc lớn nào trên đời mà làm được nếu không có sự say mê.
HEGEL


Những mảnh đời rổ rá - Kỳ cuối: Người đàn bà sửa xe

TT - Chồng bị căn bệnh không nhấc nổi tay chân. Con thì đứa ngẩn ngơ, đứa sinh hoạt không bình thường. Lẽ ra phải chấp nhận cuộc đời “rổ rá” trong xó bếp, chị vươn ra cái lán sửa xe ở đầu hẻm rồi treo lên đó số điện thoại của mình để có thể sửa xe 24/24 giờ trong ngày.

Khi chồng không còn nhấc tay lên được, chị lén đi học nghề điện để vượt xó bếp mà lo cả công việc của đàn ông trong nhà. Giữa cuộc đời, chị thấy mình vui vì trong từng ngày chị đã sống với chồng con đến hết cả tâm tình và sức lực của mình. Chị tên là Trần Thị Nghiêm, ở phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, An Giang.

Từ lâu lắm rồi, chị Nghiêm là cánh tay nối dài của chồng - Ảnh: Ngọc Nga


Chuyện của chồng
Tui bắt đầu có biểu hiện bệnh cách đây tám năm. Lúc đầu chỉ là những cơn choáng nhẹ.“Chắc mình làm việc quá sức”- tui nghĩ vậy. Rồi chân tui cứ đi loạng choạng. Bà con lối xóm bảo:“Cha Tưởng này siêng năng vậy mà giờ đổ đốn, suốt ngày say xỉn”. Tui cười xòa để giấu bệnh. Đi khám, bác sĩ bảo tui bị bệnh “thất điều giai tiểu não”, không chữa được, cơ thể sẽ mất dần khả năng vận động. Tui biết mình sẽ như ông cố, như ba, như cô mình... đang khỏe mạnh rồi từ từ chân tay không cử động được, tới lúc chẳng nuốt nổi cơm rồi ra đi.
Mang vỏ bọc là kẻ nát rượu tui chỉ giấu được người ngoài chớ đâu giấu được vợ. Vợ nhận ra, chỉ khóc rấm rứt một đêm rồi sáng dậy chạy lăng xăng nấu cơm, cười nói rôm rả. Năm xưa khi từ Trà Vinh đến An Giang đi bộ đội, tui thương cô ấy. Ngày đưa cô ấy về ra mắt gia đình, tui nói với vợ về hoàn cảnh bệnh tình của dòng họ mình, có thể di truyền, sinh con ra không biết sao. Cô ấy tận mắt chứng kiến ba tui ngồi một chỗ đờ đẫn không cầm nổi chén cơm vậy mà vẫn gật đầu đồng ý. Tui nấn ná, vợ tui giục làm đám cưới. Cưới xong hai vợ chồng ở lại căn nhà lợp tôn dột nát mà mẹ vợ để lại ở Long Xuyên.
Đứa con trai đầu lòng ra đời. Tui vẫn khỏe mạnh. Ngày đắp hồ nuôi ếch, tối về chọc con cười nắc nẻ. Thằng Túc lớn lên chút có những biểu hiện không bình thường, người ta nói nó thiểu năng trí tuệ. Tui chết lặng. Năm nó 5 tuổi, chân tay tui bắt đầu loạng choạng.
Ngày vợ sinh thằng con thứ 2, lập bập mãi tui mới lên được tới trạm xá, muốn té xỉu khi biết con không có hậu môn. Ở cữ có mấy ngày, vợ một mình ẵm con lên Sài Gòn chữa bệnh cả tháng trời, lúc nào gọi điện về cũng cười và nói: “Mình chớ có lo, Sài Gòn như ở xóm mình à”.
Con chữa bệnh xong đã có hậu môn, nhưng đến giờ đã 4 tuổi vẫn ị trong quần. Vợ phải giặt giũ luôn. Thằng anh thì ngẩn ngơ, 12 tuổi rồi mà vẫn chưa học xong lớp 3. Ba cha con tui đều là gánh nặng cho vợ.
Khi tui bắt đầu ngồi xe lăn, vợ đăng ký đi học một lớp về điện máy rồi dựng cái lán ngay đầu hẻm để sửa xe máy. Tay yếu vặn cái ốc nhiều khi em thở không nổi. Nhưng vợ tui có sá chi. Tui ngồi xe lăn, bày vợ tháo cái này, lắp cái nọ. Vợ học nhanh, vá xe, thay ruột, sửa bugi... đều làm tuốt. Để kiếm thêm tiền, vợ tui để số điện thoại ngay ngoài lán.
Đêm khuya có người hỏng xe gọi điện, vợ đều dậy, mang đồ nghề lục đục chong đèn sửa xe. Có hôm 1 giờ sáng, gặp mấy ông nhậu xỉn trêu ghẹo, vợ tui vừa vá xe vừa khóc. Từ đó cứ nhận được điện thoại là tui theo vợ ra ngồi ngoài lán. Thân đàn bà con gái đêm hôm chẳng biết có chuyện gì, có cái bóng đàn ông vẫn hơn. Vợ tay ôm đồ nghề, lưng cõng thằng em, thằng anh đẩy tui.
Không ít lần tui quạu quọ, la lối vợ om sòm vì cảm thấy mình vô dụng. Một lần nhà cháy cầu chì, vợ đỡ tui đứng dậy để sửa, cái việc cỏn con vầy mà cũng không làm được, tay tui cứng đờ. Cổ họng tui nghẹn lại, tui hét lên, nước mắt ròng ròng, quát mắng vợ. Em không cự lại, chỉ lặng lẽ vô bếp nấu cơm rồi quay ra cười cười nói nói khiến tui dịu lại. Hôm sau, vợ nối lại cái cầu chì ngon lành, thấy tui ngạc nhiên em mới thổ lộ: “Em lén anh đi học một lớp về điện nên rành lắm, từ nay anh chớ có lo”.
Để có tiền nuôi ba cha con tui, không chỉ sửa xe vợ còn nuôi luôn cả rắn. Ngày nào vợ cũng làm quần quật đến nửa đêm mới được ngả lưng, mà nào có được yên giấc, có người hỏng xe là giờ nào vợ cũng thức dậy cày cục sửa, ấy vậy mà chẳng bao giờ em kêu ca một tiếng, lúc nào cũng cười nói rôm rả với ba cha con tui.
Và tấm lòng của vợ
Lúc hai đứa chuẩn bị cưới nhau anh nói gia đình anh có căn bệnh di truyền. Anh bảo tui suy nghĩ cho kỹ. Tui thương anh, từ nhỏ ba má đã ly dị, anh phải sống với mẹ kế, bị đánh như cơm bữa. Sau này, dù có chuyện gì thì tui vẫn thương anh để bù đắp lại tuổi thơ cực nhọc của chồng.
Ngày đi nhận kết quả khám bệnh về chồng tui cứ nhìn lên mái nhà xập xệ hồi lâu rồi lẩy bẩy đi mua mấy tấm lợp thật đẹp. Rồi anh tập xe đạp cho thằng Túc, đắp thêm hồ nuôi ếch... Anh nói sau này muốn làm cũng không được nên phải tranh thủ.
Bệnh chồng ngày càng nặng hơn, đập con muỗi trên tay cũng phải kêu con. Những hồ nuôi ếch anh đắp đành phải nhường lại cho người khác. Chẳng muốn ngồi chơi không, anh cạy cục chế chiếc xe ba bánh rồi đi bán vé số khắp nơi để kiếm tiền. Tới lúc không thể điều khiển xe chạy theo ý mình được nữa, anh ở nhà bày cho tui sửa xe máy.
Tuy sức khỏe ngày càng yếu nhưng chồng tui giỏi lắm, những việc của người đàn ông trong nhà anh đều cố gắng đảm đương. Những việc như sửa điện tui có thể làm được thay chồng nhưng lúc nào anh cũng nói: “Để anh, mai mốt muốn làm cũng không được”. Tui hiểu chồng đang cố gắng sống có ích từng ngày nên càng thương anh hơn.
Có hôm cái cầu chì bị cháy, anh bảo tui đỡ đứng dậy để sửa nhưng tay cứ cứng đờ. Anh hét lên rồi khóc, la tui om sòm. Đó là lần đầu tiên từ khi biết mình mang bệnh anh khóc trước mặt tui. Tui biết chồng mình nhiều lần yếu lòng lắm, nhưng lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ để vợ con khỏi lo lắng.
Tui thay anh làm nghề sửa xe, mấy việc vá, bơm, thay ruột tui làm được ngay nhưng mấy khoản máy móc thì cứ loay hoay hoài. Sợ anh lo tui cứ gật đầu ra vẻ hiểu mỗi lần anh chỉ, nhưng thật ra đàn bà học mấy cái khoản đó đâu dễ. Mỗi lần tui sửa xe anh đều ngồi bên cạnh chỉ cho tui, phụ làm mấy việc nhẹ như bơm bánh xe, nhặt con ốc đưa cho vợ. Làm việc mà có vợ có chồng, những mệt nhọc dường như tiêu tan đâu hết.
Đêm, cứ hễ có người gọi điện thoại kêu sửa xe là anh lại thức dậy, lăn xe ra lán ngồi cùng tui. Anh sợ đêm hôm tui gặp nguy hiểm. Có bóng chồng ngồi bên cạnh tui cũng thấy vững dạ hơn.
Nhiều người cứ hỏi tui “Sao chồng bị bệnh vậy mà lúc nào cũng thấy chị cười vui vẻ?”. Ừ thì cười, tui không thể khóc được. Cũng như chồng tui dù đi không vững vẫn cố làm chỗ dựa cho vợ con. Chồng tui có được mấy ngày còn nhận ra vợ con nữa đâu. Vợ chồng gây gổ, nhiếc móc nhau làm chi. Tui biết một ngày nào đó chồng mình sẽ ra đi nên bây giờ mất gì mà không cười để anh được vui vẻ chứ!


Tri ân tình cha, tình mẹ

Đây là một câu chuyện có thật về sự hy sinh của một người mẹ trong trận động đất kinh hoàng ở Nhật Bản. Sau khi trận động đất đã qua đi, khi các nhân viên cứu hộ đến thu dọn ngôi nhà của một người phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thân thể cô ấy qua các vết nứt. Nhưng cách tạo hình cơ thể của cô có gì đó rất lạ, tựa như một người đang quỳ gối cầu nguyện, cơ thể nghiêng về phía trước, và có một vật gì đó được hai tay của cô đỡ lấy. Ngôi nhà bị sụp và đổ ập lên lưng và đầu cô.


Người đội trưởng đội cứu hộ đã rất khó khăn khi luồn tay mình qua khoảng cách hẹp trên tường để chạm tới cơ thể của người phụ nữ. Anh ấy đã hy vọng rằng người phụ nữ này có thể vẫn còn sống. Nhưng, cơ thể lạnh và cứng của cô nói với anh rằng, cô ấy chắc chắn đã qua đời.
Đội cứu hộ rời khỏi ngôi nhà và tìm kiếm tại những toà nhà sụp đổ khác. Nhưng không hiểu sao, người đội trưởng dường như bị một lực hút kéo trở lại căn nhà sụp đổ của người phụ nữ đã chết. Một lần nữa, anh quỳ xuống, và lần tìm qua những khe nứt hẹp một chút không gian dưới cơ thể đã chết. Rồi đột nhiên, anh hét lên đầy phấn chấn : "Một đứa bé ! ! ! ! Có một đứa bé !”.
Cả đội cùng nhau cẩn thận bỏ từng cái cọc trong đống đổ nát xung quanh xác người phụ nữ. Có một bé trai 3 tháng tuổi được bọc trong một tấm chăn hoa ngay bên dưới xác người mẹ. Người phụ nữ rõ ràng đã thực hiện một hành động hy sinh cuối cùng để cứu con trai mình. Khi ngôi nhà của cô rơi xuống, cô đã dùng cơ thể của mình để làm tấm chắn bảo vệ con trai mình. Cậu bé vẫn ngủ một cách yên bình khi đội trưởng đội cứu hộ nhấc bé lên.
Bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra sức khoẻ cậu bé. Sau khi ông mở tấm chăn, ông nhìn thấy một chiếc điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn văn bản trên màn hình, nói rằng, "Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con" ...
Chiếc điện thoại này đã đi từ bàn tay này đến bàn tay khác và qua bàn tay khác. . .Tất cả những người đọc tin nhắn đều đã khóc. "Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng ... mẹ rất yêu con ...”.
Tháng 11 lại về đem lại cho chúng ta một chút tâm tình tri ân tình cha, tình mẹ. Một tình yêu bao la như trời bể mà cha ông ta vẫn nói rằng:
"Công cha đức mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ song thân".
"Biết thờ song thân", thờ trong khi sống, thờ sau khi chết, thờ thế nào cho phải đạo làm con, cho xứng đáng phần nào công lao tảo tần nuôi con của mẹ:
"Nuôi con buôn tảo bán tần
Chỉ mong con lớn nên thân với đời
Những khi trái nắng trở trời
Con đau làm mẹ đứng ngồi không yên
Trọn đời vất vả triền miên,
Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con".
Thế nên, nếu so sánh công đức của cha mẹ như non cao cũng chưa xứng đáng. Tình cha tình mẹ còn vượt xa không gian và thời gian. Có thể nói tình cha tình mẹ mãi không già luôn tươi trẻ trong cuộc đời của con. Cha mẹ có thể không để lại cho con gia tài lớn lao hay những công trình vĩ đại nhưng cha mẹ luôn để lại cho con một tình yêu thương vô ngần dành cho con. Vì thế mà có ai đó nói rằng:
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha
Tình cha mẹ thương con là một tình yêu không biên giới. Một tình yêu vượt qua mọi toan tính vật chất để có thể bảo vệ che chở đời con. Đó là một tình yêu to lớn đầy hy sinh cho đàn con khôn lớn:
Mây trời lòng lộng không phủ kín công Cha
Tần tảo xóm hôm Mẹ nuôi con khôn lớn
Lá cây trong rừng dẫu nhiều cũng không thể sánh bằng công ơn của cha mẹ. Sao trên trời thật khó đếm, nhưng công ơn của cha mẹ lại càng khó đếm hơn những vì sao:
"Ðố ai đếm được lá rừng,
Ðố ai đếm được mấy từng trời cao
Ðố ai đếm được những vì sao,
Ðố ai đếm được công lao mẫu từ".
Chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, sinh lực hao mòn, nặng nhọc gánh chịu, làm sao ta có thể quên được tình mẹ bao la như biển cả ấy:
"Nhớ ơn chín chữ cù lau
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình".
Tình ở đây là tình mẹ thương con. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm tươi sáng:
"Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời".
Vậy, đổi lại sự hy sinh của tình cha tình mẹ, các ngài cần gì nơi chúng ta? Chắc chắc không phải là tiền bạc, vì tiền bạc các ngài dành giụm để trao lại cho chúng ta. Chắc chắc đó không phải là danh vọng, vì tuổi gìa chẳng còn ham muốn những tham sân si của dòng đời. Các ngài cần tình yêu của chúng ta qua sự chăm sóc, thăm nom của chúng ta khi các ngài còn sống. Và khi các ngài đã qua đời, đó chính là lời cầu nguyện của chúng ta dành cho các ngài.
Người phụ nữ Nhật trước khi chết chỉ để lại một thông điệp cho con chính là: “con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con" ... Đó chính là thông điệp của tất cả các đấng sinh thành kẻ còn sống cũng như người đã qua đời đang nói trong con tim mỗi người chúng ta. Chúng ta được sinh ra trong tình cha tình mẹ, được lớn lên trong tình thương đó và tình thương đó mãi mãi theo chúng ta trong suốt hành trình cuộc đời. Đó cũng là bổn phận mà chúng ta phải báo hiếu qua hai chữ yêu thương. Yêu thương thể hiện của lòng thảo kính vâng phục các ngài. Yêu thương thể hiện qua chữ hiếu luôn phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Yêu thương thể hiện qua lời cầu nguyện ngày đêm dành cho những người đã qua đời.
Ước gì mỗi người chúng ta từng được cưu mang trong tình yêu của cha mẹ thì hãy sống sao cho tròn chữ hiếu. Hãy biết tận dụng tháng 11 để tích luỹ ơn ích thiêng liêng mà cầu nguyện cho các ngài. Hãy làm việc bác ái, hy sinh và cầu nguyện giúp các ngài vượt qua cuộc thử thách trước toà phán xét của Thiên Chúa. Ước gì những hy sinh và lời cầu nguyện chân thành của chúng ta là lễ vật đẹp nhất để dâng về Thiên Chúa và dâng kính tổ tiên. Amen

Tác giả bài viết: Lm.Jos Tạ duy Tuyền


Sự thánh thiện Tin Mừng là gì?

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - CÁC ĐẲNG LINH HỒN 2010 Suy niệm Lời Chúa: Kh 7, 2-4. 9-14; 1Ga 3, 1-3; Mt 5, 1-12a


Có vẻ như ý nghĩa của hai ngày lễ, lễ Các Thánh Nam Nữ và lễ Cầu Hồn (thói quen vẫn gọi thế), đã quá rõ ràng và đơn giản: một lễ mừng chung tất cả mọi vị thánh, nhất là các vị không có ngày kính riêng, và một dịp cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội, chưa được lên thiên đàng vui hưởng với các thánh. Mừng cho các vị đã thành công, và hỗ trợ các vị chưa đạt tới đích. Có thể là như thế! Nhưng nếu nhìn từ khía cạnh ơn cứu độ, tôi vẫn thấy có gì đó không ổn lắm, nhất là dựa trên Lời Chúa.
Khái niệm các thánh như chúng ta có ngày nay (beatified, canonized, blessed, saint), tức là các vị được tuyên phong, không có trong thánh kinh, nhất là trong Tân Ước. Phao-lô gọi các tín hữu Co-rin-tô là những người đã được hiến thánh, là dân thánh (1Cr 1, 2-3), cho dầu ngay sau đó, trong cùng lá thư ấy, ngài thẳng thắn vạch ra tất cả các tội lỗi họ phạm, thậm chí cả tà dâm và loạn luân. Nói chung ngài gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là thánh và cộng đoàn qui tụ họ là Hội Thánh, bất luận họ đã hoàn thiện hay chưa, chỉ với một điều kiện duy nhất là họ tin đức Ki-tô Giê-su là Cứu Chúa. Trong cuộc khải hoàn thiên quốc được sách Khải Huyền mô tả, ‘một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ’. Điểm chung nhất của họ là ‘đứng trước Con Chiên’ và ‘đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên’.
Trong nhãn quan đó, Các Thánh Nam Nữ mà chúng ta mừng kính hôm nay đâu phải chỉ là ‘các thánh’ đã được tuyên phong. Chúng ta mừng kính tất cả những ai đã đặt trọn niềm tin vào đức Ki-tô Cứu Chúa; đúng hơn chúng ta đang mừng chính sự bao quát của lòng từ ái Chúa đang tràn ngập nhân loại, một lòng thương xót vô biên đang chủ động len lỏi tới với từng con người. Thánh Gio-an đã tóm lược điều đó cách tài tình: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa”. Trong ngày lễ này, không phải các vị thánh là trọng tâm, mà Con Chiên – Đức Ki-tô Cứu Độ mới là trọng tâm chúng ta phải qui hướng về để ca ngợi. Phúc cho tất cả những ai đã biết đón lấy ơn cứu độ và lòng thương xót của Thiên Chúa, nhờ tin vào đức Ki-tô Giê-su. Vì đây là mối phúc duy nhất và vĩ đại nhất cho toàn thể nhân loại, cho nên tất cả những gì đưa tới nó, hay đóng góp vào việc tiếp nhận nó, đều được coi là có phước. Tự nó vế thứ nhất của các điều được liệt kê trong bài giảng trên núi không phải là phúc. Chúng không thể mang bất cứ hạnh phúc nào cho con người. Duy đối với Tin Mừng đức Giê-su rao giảng chúng mới được gọi là ‘phúc’ vì là phương thế (qui tắc) đưa con người tới đón nhận tình yêu cống hiến của Thiên Chúa, để ‘giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên’. Lễ Các Thánh Nam Nữ chính là ngày chúng ta ca ngợi lòng thương xót cứu độ Chúa đã thành công đến được với rất nhiều người.
Thế còn ngày lễ Cầu Cho Các Tín hữu đã Qua Đời, hay cầu cho Các Đẳng Linh Hồn nơi Luyện Tội? Nếu lấy ơn cứu độ của Chúa làm trọng tâm thì ngày này chính là để nhìn vào sự đón nhận của từng người chúng ta. Nếu đã mừng lòng từ ái Chúa trải rộng bao la tới hết mọi người và từng người, không trừ một ai, ta càng có lý do để thôi thúc, để mong mỏi mọi người và từng người nhận biết và đón lấy tình yêu thương xót này với tất cả cõi lòng mình. Thực tế lại không được như thế. Ngay cả giữa những người được coi là tốt lành trong chúng ta (kể cả các chức sắc trong Giáo hội), đã mấy người biết ném mình trọn vẹn trong vòng tay nhân ái của Cha? Chúa không đòi chúng ta phải hoàn toàn sạch mọi tội… để vào thiên quốc (như nhiều người vẫn nghĩ); điều duy nhất ngài mong đợi là hãy hết lòng đón nhận ơn tha thứ vô điều kiện của ngài (trường hợp tên cướp cùng bị đóng đinh với). Ấy vậy mà mấy người trong chúng ta đã biết làm điều này. Ta vẫn hay mơ ước được sạch tội hơn là đón lấy tình thương hài hà của Chúa. Ta vẫn nghĩ là luyện tội là nơi các ‘tín hữu’ đã qua đời chờ được thanh luyện hơn là khao khát lòng thương xót vô hạn của Chúa. Đền tội hay đón nhận cách triệt để ơn cứu độ, điều nào quan trọng hơn?
Lạy Chúa, con tin vào sức mạnh của tình yêu thương xót Chúa qua việc mừng kính các thánh. Con ca ngợi Con Chiên sát tế đã là mở ấn niêm phong để mọi người có thể tới giặt và tẩy áo mình. Con cậy trông lòng từ ái Chúa sẽ mạnh hơn cả sự cứng cỏi của con và của nhiều tín hữu đã qua đời. Amen
Tác giả bài viết: của Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB


CÁC THÁNH LÀ AI?

Thưa quý OBACE, khi nói đến Các Thánh chúng ta hay hình dung đó là những con người siêu phàm, khác thường, thậm chí có người còn cho rằng đó là những con người không bình thường, hoặc là những con người đạo đức đến cù lần, suốt ngày chỉ biết đọc kinh và ngoài ra không biết làm gì nữa. Đàng khác, các tranh ảnh về các thánh thường hay vẽ thêm một vòng hào quang trên đầu các Ngài, khiến cho nhiều người muốn đến gần nhưng lại e ngại, vì thấy hào quang ấy sáng quá, và nhất là thấy không phù hợp với mình hoặc mình không với tới được.

Tất cả các cái nhìn như thế đều có lý do của nó, thế nhưng thực ra, Các Thánh là những con người hết sức bình thường cũng như chúng ta, song họ lại là những con người dám sống một cách phi thường, dám làm những việc bình thường một cách phi thường, dám sống chết cho tình yêu, lý tưởng và sự chọn lựa của mình. Chẳng hạn đã có lần tôi được gặp và nói chuyện, chụp hình với Mẹ Teresa Calcutta, nay đã là một vị Thánh trong Giáo Hội, mẹ hết sức đơn giản bình thường như bao nữ tu khác, thế nhưng khi cầm bàn tay của me, một bàn tay thô ráp của một người lao động, tôi cảm nhận được sự vĩ đại của bàn tay ấy, vì đôi bàn tay ấy đã ôm ấp và xoa dịu đau khổ của biết bao nhiêu con người, và khi nói chuyện với mẹ, thì quả thật đó là một con người hoàn toàn phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.
Hôm nay Giáo Hội mừng kính chung trong một ngày tất cả Các Thánh Nam Nữ trên trời, để làm gì vậy? Thưa – trước hết để tôn vinh tạ ơn Thiên Chúa vì Chúa đã thực hiện những điều kỳ diệu nơi những con người bình thường này, và họ đã đáp trả lời mời gọi của Chúa một cách tron vẹn. Đồng thời mừng chung các thánh, Giáo Hội cho chúng ta thấy biết bao nhiêu các anh chị em của chúng ta đã thành công trên con đường theo Chúa, và mỗi chúng ta có thể thấy mình có những hoàn cảnh không khác gì các thánh ngày xưa, có người nên thánh như là linh mục tu sĩ, song còn biết bao người đã nên thánh trong vai trò là ông, bà, cha mẹ, là con cái tức là những người giáo dân bình thường, để từ đó chúng ta cũng noi gương bắt chước các Ngài.
Sách Khải Huyền hôm nay cho thấy một số lượng đông đảo không thể đếm được họ đủ mọi thành phần, thuộc mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ mọi quốc gia, mình mặc áo trắng tay cầm cành lá thiên tuế, họ gia nhập vào đoàn rước của Nước trời để tôn vinh chúng tụng Thiên Chúa là Con Chiên, là Chàng Rể, là Đức Vua trời đất. Con số đông đảo ấy là một con số cho thấy, Nước Trời không hề giới hạn hoặc loại trừ ai, trái lại tất cả mọi người đều có thể vào chung hưởng , tất cả họ đều đã trải qua thử thách lớn lao và đã thành công.
Như thế, có thể nói, các Thánh đều là những người đã nếm mùi đau khổ thử thách ở trần gian như chúng ta, song họ giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa và kiên trì với giới răn lề luật của Thiên Chúa, với Tám mối Phúc thật.
Tám Mối Phúc Thật chính là con đường nên thánh của Kitô hữu chúng ta, là tiêu chuẩn của Nước Trời. Hôm nay Chúa Giêsu đã long trọng công bố Tám mối phúc như là một bản Hiến chương của Nước Trời. Phúc Cho nhữ ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ, phúc cho nhữ ai hiền lành, phúc cho những ai dau khổ, vv. Nếu để tâm lắng nghe, mỗi người sẽ thấy có những mối phúc thích hợp với hoàn cảnh của mình, hoặc chính mình đang được mời gọi sống mối phúc ấy.
Giữa một cuộc sống mà người ta hứa hẹn cho chúng ta những cơ hội giàu có, thí Chúa lại chúc phúc cho sự nghèo khó, giữa lúc xung quang ta đầy dẫy bạo lực thì Chúa lại muốn chúng ta sống hiền lành, giửa lúc con người tìm kiếm sự thỏa mãn, thí Chúa lại chúc phúc cho người đau khổ, giửa lúc cuộc sống đầy giả trá luồn lách, thì chúng ta, người Kitô hữu, được mời gọi sống công chính, giửa lúc mà con người dường như trở nên vô cảm, hững hờ trước nỗi đau của anh chị em, thì Chúa muốn chúng ta biết xót thương người, giữa lúc mà người đời tìm kiếm sự hưởng thụ khoái lạc thì chúng ta được mời gọi sống trong sạch, trong một xã hội nhiều bạo lực giết chóc, hận thù, chúng ta được mời gọi xây dựng hòa bình, trong một xã hội còn nhiều bất công, chịu thiệt thòi vì mang danh là Kitô hữu, thì Chúa chúc phúc cho những người bị bách hại và bị vu khống chỉ vì mang danh là mộn đệ của Chúa. Như thế, Tám mối Phúc là những lời vừa động viên khuyến khích, vừa mời gọi mỗi chúng ta dám lội ngược dòng, dám sống khác với trào lưu của thế giới và xã hội hôm nay chỉ vì một mục đích duy nhất đó là hạnh phúc Nước trời và vì Nước Trời mai sau. Các Thánh chính là những người dám sống cái nghịch lý nhưng không vô lý của Tin Mừng, các Ngài đã sống đến cùng những đòi hỏi của Tám mối Phúc của Chúa và các Ngài đã thành công.
Các Thánh đã thành công và sống trọn vẹn các mối phúc, thì chúng ta hôm nay mừng các Ngài, không chỉ để tôn kính và cầu xin khấn hứa cùng các Ngài, mà còn là nhìn vào tấm gương của các Thánh để chúng ta noi theo, vì, cũng như các Thánh, tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương và chuẩn bị hạnh phúc Nước Trời cho chúng ta. Thánh Gioan trong bài đọc hai hôm nay đã diễn tả tình yêu ấy khi nói: Thiên Chúa yêu chúng ta dường nào, đến nỗi cho chúng ta được làm con của Ngài và thực sự chúng ta là con Thiên Chúa, chúng ta cùng được chia sẻ vinh quang của Đức Kitô, Người Con duy nhất của Thiên Chúa, và ai đặt trọn niềm tin tưởng và hy vọng vào Chúa Kitô thì chắc chắn sẽ được hưởng hạnh phúc với Ngài.
Thưa quý OBACE, trở nên những vị thánh là một lời mời gọi Chúa dành cho chúng ta: Các con hãy nên thánh như Cha các con trên trời là Đấng thánh. Đó là một ân huệ song cũng là một thách thức cho chúng ta là những ngườ Kitô hữu, là ân huệ vì chúng ta tin rằng Thiên Chúa luôn muốn và làm mọi điều tốt đẹp cho chúng ta, Ngài đã chuẩn vị Hạnh phúc Nước trời cho mỗi người, và con ban cho chúng ta những phương thế để nên thánh, đó là Ân sủng và các Bí Tich, qua sự phục vụ của Hội Thánh, chúng ta được ban cho tất cả những gì cần thiết để có thể đi trọn con đường của Tám mối Phúc, để sống ơn gọi của mình.
Tuy nhiên lời mời gọi nên thánh cũng vẫn là một thách thức cho chúng ta, giủa một cuộc sống có quá nhiều lôi kéo mời chào, cám dỗ, khiến cho nhiều người bị lạc lối hoặc nấn ná trước lời mời gọi sống thánh. Cái cảm dỗ lớn nhất có lẽ là cái cám dỗ làm nhụt chí, làm nản lòng chúng ta khi nó nói với mỗi người rằng: việc nên thánh là của mấy ông cha bà sơ, của ai đó, chứ không phải của tôi! Nó thúc đẩy trong lòng mỗi người rằng: ông bà, anh chị có cố gằng mấy cũng chẳng ai gọi ông bà là thánh thiện đâu! Đừng cố gắng làm gì, cứ ăn chơi, sống thoải mái đi sau này rồi tính! Bây giờ ông bà phải vất vả để lo lắng cho gia đình, lo cho con cái, hãy tạm gác chuyện dâng lễ xưng tội lại, khi khá giả rồi mình đến với Chúa cũng không muộn; Nó nói với các bạn trẻ rằng: Mày là thanh niên, là đàn ông phải biết mùi đời chứ, phải sành điệu chứ, vv. Bạn phải là một phụ nữ tiến bộ hiện đại chứ không thể quê mùa được! Đó là những cám dỗ ngọt ngào nghe như hợp lý mà ma quỷ nó đang rót vào tai mỗi người để làm nhụt chí chúng ta.
Hãy can đảm từ chối những lời ngọt ngào ấy, vả quyết tâm sống theo Tin Mừng của Đức Kitô và Tám Mối Phúc như đã chia sẻ ở trên, chúng ta sẽ là những vị thánh như Các Thánh mà Giáo Hội mừng kinh hôm nay, có thể chúng ta sẽ không là những vị thánh nổi tiếng, nhưng chúng ta có thể là những vi thánh bình thường, vì chúng ta đã can đảm sống cuộc sống bình thường một cách phi thường, sống hết lòng vì tình yêu mến đối với Chúa và với anh chị em. Amen
Lm. Giuse Đỗ ĐứcTrí
Giáo phân Xuân Lôc

Tác giả bài viết: Lm. Giuse Đỗ ĐứcTrí



Xin đừng quên tôi! (Forget me not. )

1.Forget me not. Có một loài hoa đẹp tên là Forget me not. Tên khoa học: Myosotis - Family : Boraginaceae

Tên tiếng Việt: Hoa Lưu Ly
Tên tiếng Anh: Forget me not, Xin đừng quên tôi
Thông điệp: Tình yêu chân thành (True Love) - Hoài niệm (Memories)
Ngày 28/4/1917, Forget me not được chính thức trở thành biểu tượng hoa của tiểu bang Alaska (Mỹ).
Hoa Lưu Ly có tên khoa học là Myosotis Scorpioides từ ý tưởng cánh hoa có hình tai chuột (Myosotic tiếng Latin là "tai chuột") và vì chúng thuộc họ cỏ Bò Cạp (Scorpion Grass) do các cụm hoa đều uốn cong lên giống như đuôi bò cạp. Đây là loài hoa bé nhỏ nhưng đầy sức sống và có hương thơm mát, phân bố tự nhiên ở vùng ôn đới. Forget me not có hoa màu xanh, trắng, tím, hoặc vàng, nhưng phổ biến là màu xanh hay tím violet đặc trưng (ở Đà Lạt). Forget me not thường được cắm chung hoặc làm nền cho các loại hoa khác, đem lại cảm giác trữ tình và êm dịu.
Hoa Lưu Ly thường được gắn với những hoài niệm yêu thương và tình yêu chân thành. Một truyền thuyết của người Đức đã giải thích nguồn gốc tên của loài hoa màu xanh tím nhỏ bé xinh đẹp này, cũng như ý nghĩa của nó trong ngôn ngữ các loài hoa :
Ngày nọ, có một hiệp sĩ trẻ và người yêu đang đi dạo dọc theo bờ sông Danube. Cô gái trông thấy mấy cánh hoa đẹp mọc ở ven bờ, nơi sát mí nước, rất thích, cô bảo người yêu hái chúng cho mình. Nhưng than ôi, trong lúc cố vươn tay với lấy các cành hoa, chàng hiệp sĩ trượt ngã xuống dòng sông đang chảy xiết. Bị vướng víu áo giáp nặng nề, chàng đã không thể vượt qua được bờ sông trơn trượt dù đã cố gắng hết sức. Cảm thấy mình đang nhanh chóng chìm xuống, anh ném hoa lên bờ cho người yêu và bằng tất cả hơi thở tàn của mình trước khi chìm mãi, anh gọi nàng một lời như trăn trối : "Đừng quên nhau nhé !" rồi mất hút trong dòng nước xiết... Người yêu đau khổ đã không bao giờ quên anh, cô cài những cánh hoa ấy trên tóc cho đến khi chết.
Một truyền thuyết khác kể rằng, có một người du hành nọ đang lang thang trong thung lũng hoang vắng thì nhìn thấy một bông hoa lạ mà anh chưa từng gặp bao giờ ngay dưới chân mình. Anh hái bông hoa, ngay lập tức, cạnh dốc núi hé mở ra. Anh bước vào trong và thấy trước mắt mình không biết cơ man nào là vàng và ngọc ngà châu báu. Anh sung sướng và bắt đầu thu nhặt chúng, nhưng lại vô tình đánh rơi bông hoa bé nhỏ. Bông hoa thầm thì một cách yếu ớt : "Xin đừng quên tôi ! Xin đừng quên tôi !" Tuy nhiên, người lữ hành mải lo say sưa với những vật báu trước mặt mà làm ngơ trước lời khẩn cầu đó. Rồi, khe núi bắt đầu khép dần lại, anh ta chỉ còn một chút thời gian ngắn ngủi để chạy thoát. Nhưng, Alas ! Bông hoa nhỏ từng giúp anh mở cái hang châu báu này đã biến mất mãi mãi.
Còn theo một truyền thuyết Công giáo, ngày nọ, Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn địa đàng sau khi sáng tạo ra thế giới muôn loài. Người bỗng chú ý đến một bông hoa nhỏ và hỏi nó tên gì. Bông hoa ngượng ngùng thì thầm : "Hic, con sợ rằng con đã quên mất rồi ạ, thưa Chúa" (I am afraid I have forgotten, Lord). Đức Chúa ôn tồn trả lời : "Forget Me Not. Uh, ta sẽ không bao giờ quên con". (nguồn: hoa-forget-me-not.blogspot.com).

2.     Nhớ đến tôi
Tháng Mười Một lại về, tháng nhớ đến và cầu nguyện đặc biệt cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Với người Công Giáo, Tháng Mười Một là Mùa Cầu Hồn, mùa nhắc nhở mỗi người nhớ đến người đã “đi trước”, và cũng nhắc nhở mỗi người: “nay anh mai tôi”.
Hoa Forget me not gởi sứ điệp cho mọi người: Xin nhớ đến tôi.
Ai cũng mong ước người khác nhớ đến mình.
Mẹ sửa soạn đi chợ, đứa con nhỏ nũng nịu: mẹ nhớ mua quà cho con nhé.
Con cái đi học đi làm xa, cha mẹ dặn dò: nhớ cầu nguyện hàng ngày nghe con, nhớ thường xuyên gọi điện về nhà nghe con.
Chồng đi làm xa, vợ dặn dò: anh nhớ gọi điện cho em nhé.
Vị linh mục thăm viếng bệnh nhân, khi ra về người bệnh thường nói: Cha nhớ cầu nguyện cho con nhé…
Trên thập giá, người trộm lành thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài khi nào vào nước của Ngài, xin nhớ đến tôi”.
Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Mỗi ngày trong Thánh lễ, Lời Chúa Giêsu được lập lại long trọng trong Lời Truyền Phép: Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy.

Cuộc sống hằng ngày của mỗi người có bao gian truân vất vả, bao trăn trở ưu phiền. Khi có người gọi điện thoại hỏi thăm, khi nhận được một lá thư, một món quà, lòng tôi ấm lên niềm vui và hạnh phúc. Bởi lẽ, có người nhớ đến gọi điện cho tôi, viết thư cho tôi, tặng quà cho tôi.
“Nhớ đến tôi” là ba chữ ai cũng muốn có trong cuộc đời mình. Nếu không được ai nhớ đến, cuộc đời tôi bất hạnh biết bao!
Những người đã ra đi yên nghĩ trong lòng đất, họ cần điều gì nhất? Họ cần đến lòng thương xót Chúa. Họ cần chúng ta nhớ đến họ. Ông bà cha mẹ, những thân bằng quyến thuộc của chúng ta đã an giấc ngàn thu cần chúng ta cầu nguyện tưởng nhớ đến họ. Nghĩa trang là nơi an bình yên tĩnh. Người đã khuất sống mãi trong trái tim tình yêu, trong lòng nhớ ơn thiết nghĩa của người còn đang sống. Giọt nước mắt khi người ta khóc, chính là những viên kim cương lấy từ trái tim để tặng cho người mình nhớ thương đã an nghĩ.

Nhớ lời một ca khúc “Không Tên” của Nhạc sĩ Vũ Thành An: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa?”. Sống mà không được nhớ tới là sống trong lạnh lẽo của mộ sâu. Đau khổ nhất của người đang sống chính là cô đơn, là không được ai nhớ đến.Thiệt thòi lớn nhất của người đã chết là bị quên lãng. Người đã chết chẳng cần ăn mặc, không nói năng, không nổi niềm, không đi đứng. Họ đã bước vào cõi thinh lặng ngàn thu. Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện. Họ muốn chúng ta cho họ những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những mật hoa bác ái, những hương hoa hy sinh.
Hãy tặng cho những người đã an giấc những bông hoa Forget me not. Hãy để hương hoa “xin đừng quên tôi” phảng phất xung quanh nấm mồ. Họ cần thứ hoa đó hơn con thơ cần sữa mẹ, hơn thiếu nữ cần tình yêu, hơn khu vườn cần nắng ấm.

Chúa Giêsu dạy lời vàng ngọc: “Hãy làm cho người khác điều mà con muốn người khác làm cho con” (Mt 7,12). Hãy tưởng nhớ đến những linh hồn thân nhân, ân nhân, bạn bè, nếu chúng ta muốn sau này có nhiều người tưởng nhớ đến mình. Tình nghĩa quan trọng hơn bạc tiền. Đời sau giá trị hơn đời này.
Người Công giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, ví dụ như xin Lễ, dự Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức… để “nhớ đến” những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Chúa.
Những việc lành phúc đức cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.

“Nhớ đến tôi”, đó là ba chữ quan trọng cho người còn sống và cho người đã ra đi. Bao nhiêu tư tưởng cao siêu, bao nhiêu câu chuyện yêu đương đẹp như thần thoại cũng đều gói gọn trong cỗ quan tài. Bao nhiêu khối óc vượt nhân thế, bao nhiêu tính toán siêu vời cũng vỏn vẹn trong chiếc quan tài. Mênh mông như cuộc đời sau cùng cũng im lặng trong lòng đất.

Tôi chết có được người khác nhớ đến hay không? Đó là do cách sống của tôi trước khi chết. Người ta nhớ tôi hay không, là “quyền” của người ta. Nhưng chính tôi có bổn phận nhớ đến người đã khuất. Nhớ đến để cầu nguyện cho họ trong tình liên đới và hiệp thông Kitô giáo trong Chúa.        
Sinh thời Chúa Giêsu đã muốn rằng: Người ở đâu, những kẻ Chúa Cha ban cho Người cũng sẽ được ở đó. Chúa dẫn đưa con người về bến bờ sự sống ngang qua sự chết. Trong ý hướng ấy, chúng ta cầu nguyện cho những người đã khuất và tin rằng tấm lòng của mình chạm đến được lòng xót thương của Thiên Chúa.
Tháng 11, nhớ đến những người đã an nghĩ, kinh nguyện và việc lành phúc đức chúng ta dâng chính là “của lễ cho người đi vào cõi sống”.


Tác giả bài viết: Lm Giuse Nguyễn Hữu An


GIÒNG GIỐNG VĨ NHÂN


Cách đây mười năm, một người Pháp tên là Alfred de Pierrecourt để lại gia tài của ông là 2 triệu Mỹ kim với lời di chúc là phải sử dụng số tiền ấy để gây giống cho những người khổng lồ. Người thi hành di chúc của ông đã trích ra 1/4 số tiền để tìm và mang những người cao lớn vượt tầm mức về sống ở gần thành phố Rouen, khuyến khích họ lập gia đình với nhau. Nhưng chương trình gây giống những người khổng lồ này bị thất bại vài năm sau đó.
Cách đây non hai ngàn năm có một người cũng để lại một di chúc, một chương trình, nhưng không phải để gây giống cho những người khổng lồ về phương diện hình vóc mà là về phương diện tinh thần. Chương trình quen được gọi là "8 mối phúc thật" do Chúa Giêsu biên thảo. Trải qua bao thế hệ mãi cho đến thời đại chúng ta, vô số những tín hữu Kitô nhờ áp dụng chương trình này mà trở thành vĩ nhân.
Mừng kính những vĩ nhân ấy trong ngày lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta hãy noi gương các ngài đem ra thực hành mỗi mối phúc thật trong cuộc sống, để càng sống chúng ta càng phát triển, tiến bộ trên con đường thánh thiện mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho mỗi người chúng ta.

Tác giả Veritas