Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

5 tháng 1, 2012

LỄ CHÚA HIỂN LINH: TÌM CHÚA VÀ GẶP CHÚA

      Thưa quý OBACE, tối ngày 10/12 vừa qua nhiều người đã chú ý để quan sát một điều kỳ diệu xảy ra trong vũ trụ đó là hiện tương nhật thực toàn phần dài nhất thế kỷ, kế đến mấy ngày hôm sau lại là những đêm mưa sao băng lung linh trên bầu trời.
      Ngày nay khoa học đã giải thích rõ ràng các hiện tượng trên, là sự chuyển động theo chu kỳ của mặt trời mặt trăng và các ngôi sao. Các đây 2012 năm cũng đã có một hiệt tượng lạ trên bầu trời đó là một ngôi sao lớn xuất hiện và lúc ấy các đạo sĩ ở Phương Đông đã tin rằng ngôi sao ấy báo hiệu sự xuát hiện của một vị quân vương, thế là họ đã lên đường tìm kiếm Người.
      Trước đây theo thói quen chúng ta thường gọi lễ Chúa hiển linh là lễ Ba Vua, thực ra các nhân vật được thánh Matthew kể trong Tin Mừng hôm nay không phài là các vua, mà họ là những đạo sĩ, những nhà chiêm tinh của Đông Phương, những người dân ngoại tìm đến Giêrusalem để triều yết vị vua mới sinh. Nếu như trong đêm giáng sinh, Đức Giêsu đã tỏ mình ra cho những người bé mọn là các mục đồng dân Israel, thì với biến cố viếng thăm của các đạo sĩ, Chúa Giêsu đã tỏ mình ra cho dân ngoại.
       Bài đọc một tiên tri Isaia đã mô tả về ánh vinh quang của Thiên Chúa được tỏa sáng như mặt trời, và Giêrusalem trở thành nơi quy tụ muôn dân, các vua chúa các dân tộc trần gian sẽ tuôn về Giesusalem để được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa chiếu tỏa trên nó. Thánh Phaolô đã nhìn thấy đó là một hình ảnh báo trước về một kế hoạch lớn lao của Thiên Chúa, Ngài sẽ cứu độ tất cả mọi dân mọi nước. Thiên Chúa không còn là Thiên chúa của dân Do Thái mà là Thiên Chúa của mọi dân tộc mọi quốc gia. Tất cả những ai tìm đến với Đức Kitô, tin nhận Tin Mừng của Người thì được chia sẽ và thừa kế gia nghiệp mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân Israel.
      Thánh Matthew đã nhận ra rằng Thiên Chúa đã thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài qua biến cố các đạo sĩ đã tìm đến Gierusalem để bái lạy Hài Nhi Giêsu. Câu chuyện được kể lại là cả một hành trình dài tìm kiếm đức tin của các đạo sĩ mang tính biểu trưng, và đó cũng là hành trình của mỗi người chúng ta khi tìm đến với Đức Giêsu.
      Để có thể tìm kiếm và gặp được Hài nhi Giêsu cần phải có một quyết tâm lên đường giống như các đạo sĩ, họ phải bỏ lại đàng sau tất cả của cải vất chất và gia đình để bước vào một hành trình tìm kiếm. Hành trình này không hề dễ dàng thoải mái, mà phải băng qua sa mạc của thử thách và hy sinh, có những lúc họ hăng say phấn khởi vì có ánh sao dẫn đường, song cũng có những lúc ánh sao như bị che khuất và các đạo sĩ phải bước đi trong tăm tối. Những lúc như thế, họ đã phải dò hỏi tìm đường, kể cả phải vào cung điện của Herode để hỏi thăm: Đức Vua dân do Thái mới sinh ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện ở phương Đông và chúng tôi đến để bái lạy người.
      Khi được chỉ cho biết: Vua người Do Thái sẽ sinh ra tại Belem đất Giuda, các đạo sĩ lại phấn khởi lên đường, và ngôi sao lại xuất hiện dẫn đường cho họ tìm đến nơi, và gặp được Hài Nhi Giêsu, và Đức Maria,  họ đã sấp mình thờ lạy người. Thái độ sấp mình thờ lạy là thái độ cung kính tôn thờ và tin nhận Hài Nhi bé nhỏ kia chính là Thiên Chúa, các đạo sĩ đã dâng cho người tất cả những gì là quý giá nhất, là tất cả sản nghiệp mà họ mang theo, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược, là những của lễ dành cho các bậc quân vương.
Sau khi đã gặp hài Nhi, thì các đạo sĩ đã được báo là phải đi đường khác để trở về xứ sở mình. Điều đó có nghĩa là khi đã được gặp gỡ Thiên Chúa, con người phải có một quyết định thay đổi đời sống, không thể sống theo con đường cũ, con đường của tối tăm và sự ác, mà phải đi một con đường khác, con đường của niềm tin của ánh sáng, phải thay đổi từ trong suy nghĩ đến hành động, tức là thay đổi hoàn toàn cả con người cho phù hợp với những gì mà Đức Giêsu đòi hỏi.
Ngược lại với các đạo sĩ là thái độ của vua Herode và các Thượng tế, khi nghe các đạo sĩ hỏi: Vua người Do Thái mới sinh ở đâu? Thì Herode bối rối lo sợ và cả Giêrusalem xôn xao, còn các thượng tế thì biết rất rõ và rất thuộc Kinh Thánh họ có thể chỉ cho các đạo sĩ biết là tại Belem đất Giuda, thế nhưng chính các vị này không hề lên đường không tìm kiếm, không dám ra khỏi sự vinh quang và từ bỏ địa vị của mình, không dám ra khỏi con người của mình để tìm gặp Đức Giêsu. Độc ác hơn nữa vua Herode không những không tìm kiếm Hài nhi, mà ông còn mang một cái vỏ tử tế bên ngoài nhưng trong lòng thì rắp tâm đề loại trừ Người chỉ vì sợ rằng Hài Nhi Giêsu sẽ tranh giành quyền lực ngai vàng của ông. Herode bí mật mời các đạo sĩ đến và nói: Các khanh hãy đi và dò hỏi tường tận về Hài Nhi và khi tìm thấy thì báo lại cho tôi để tôi cùngb đến bái lạy Người.
     Thưa quý OBACE, Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người, song con người cũng vẫn phải nỗ lực để tìm kiếm Ngài, khám phá không ngừng về đức tin của mình. Tin Chúa, theo Chúa không phải là bằng lòng, với một chút hiểu biết của mình mà cần phải liên tục khám phá và đào sâu vể Tin Mừng về Đức Kitô và giáo lý  của Ngài; Hơn thế nữa tin Chúa không dừng ở mức độ hiểu biết mà còn phải còn phải liên tục làm mới mối tương quan tình yêu của mình với Thiên Chúa, sống gắn bó thân tình với Chúa.
     Giống như hành trình của các đạo sĩ, mỗi người chúng ta nhờ ánh sáng của Tin Mừng, chúng ta tin nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa và là vua trời đất và được mời gọi bước theo Người. Hành trình theo Chúa đòi chúng ta phải bỏ con đường cũ, đi theo một con đường khác, chấp nhận từ bỏ và hy sinh, bỏ lại đàng sau những lôi kéo của xã hội, của tự do buông thả, là chấp nhận lội ngược dòng, sống khác với người đời cho dù bị thế gian cho là dại khờ; người đời sống gian dối trộm cắp, nhưng là người Công giáo tôi sống ngay thẳng; người đời có thể làm điều gian ác bất công nhưng tôi vẫn sống ngay thẳng thật thà dù tôi bị thiệt thòi; người đời họ thù oán giận hờn, nhưng tôi sống tha thứ và yêu thương.
      Giống như các đạo sĩ, chúng ta cũng được mời gọi dâng cho Chúa không phài là vàng, mộc dược nhũ hương, mà là dâng cho Chúa thời giờ, sức khỏe và khả năng qua việc siêng năng đến thờ phượng Chúa dâng thánh lễ mỗi ngày, qua việc phục vụ anh em và các công tác tông đồ trong giáo xứ. Mỗi người chúng ta đã nhận mọi sự từ Thiên Chúa thế nhưng chúng ta lại tính toán với Chúa và không dám mở rộng đôi tay để yêu thương chia sẻ và dâng lại cho Chúa. Mỗi ngày hãy dâng cho Chúa công việc, lo toan và cả gia đình của mình, Chúa sẽ nhận và sẽ nâng đỡ cho những khó khăn vất vả của chúng ta.
     Xin Chúa biến đổi và giúp chúng ta sống tốt hơn, để nhờ đời sống gương sáng của mỗi Kitô hữu như những ánh sao dẩn đường cho nhiều người tìm đến với Chúa. Amen
Tác giả bài viết: Lm. Đỗ Đức Trí
 

CHIẾC ÁO RÁCH


Một linh sư Anh giáo nọ rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy rằng người đệ tử không cần đến sự dìu dắt của ông nữa, cho nên ông mới bỏ mặc anh trong túp lều tranh rách nát bên cạnh một bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách rưới của mình. Ðây là tài sản duy nhất của anh ta.

Ngày nọ, anh đau đớn vô cùng khi nhận ra chiếc áo phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn tả tơi. Không còn cách nào nữa, người đệ tử đành phải vào làng gõ cửa để xin một chiếc áo khác. Cái áo lần nữa cũng bị chuột gặm nát. Anh mới xin được một con mèo. Lần này anh khỏi phải lo lắng về mấy con chuột nữa. Nhưng không xin áo mặc, thì người đệ tử cũng phải xin cơm, bánh mà thôi.

Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một thứ gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, cho nên anh mới tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn. Những ngày đầu, anh còn tự mình cắt cỏ cho bò ăn. Về lâu về dài, nhận thấy không còn thì giờ cho sự cầu nguyện nữa, cho nên anh đành phải thuê người cắt cỏ cho bò. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Không mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã biến thành một nông trại. Con người đã một thời muốn bỏ đi tất cả mọi sự để trở thành một tu sĩ nay nghiễm nhiên trở thành một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, cho nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ. Và không mấy chốc, anh đã trở thành một trong những chủ nông trại giàu có nhất trong làng.

Vài năm sau, khi có dịp trở lại thăm ngôi làng cũ, vị linh sư đã một thời dẫn dắt anh, ngạc nhiên vô cùng vì thay cho túp lều nghèo nàn bên bờ sông, nay là cả một cơ nghiệp đồ sộ. Dò hỏi được tung tích của người chủ nông trại, vị linh sư mới lên tiếng hỏi người đệ tử của mình: "Thế này nghĩa là gì hả con?". Người đệ tử mới trả lời: "Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu là cũng chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách".

Vì chén cơm manh áo, người ta có thể đánh mất lý tưởng của mình. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chối bỏ niềm tin của mình. Ðó là mối hiểm nguy mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.
  Ðầu một Năm Mới, tiến thêm một bước trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm sáng suốt để thấy được bậc thang giá trị trong cuộc sống của chúng ta. Xin Ngài ban thêm can đảm để trong khi mưu cầu của cải vật chất, chúng ta có đủ sức khước từ mọi hành động bất chánh, mọi thỏa hiệp với lừa đảo, gian trá. Xin Ngài ban thêm lòng quảng đại để chúng ta biết mở rộng quả tim và đôi bàn tay để chia sớt, để san sẻ với mọi người khốn khổ.
Tác giả Veritas

4 tháng 1, 2012

“Quái kiệt” ngủ dưới... đáy biển

Trong giới thợ lặn ngang dọc trong khắp vùng vịnh Tây Nam, có một người khá nổi tiếng và tên tuổi gắn liền với những biệt danh Thuồng luồng biển, Quái kiệt trên đảo Phú Quốc, Kỳ nhân dưới đáy sâu…
“Quái kiệt” đó là Sáu Hà (Nguyễn Văn Hà), ở Bãi Bổn, xã Hàm Ninh, H.Phú Quốc, Kiên Giang. Những biệt danh trên được bạn lặn gán cho ông vì khả năng ở cả ngày và có thể đánh giấc hàng giờ dưới đáy biển. Từ dưới sâu, câu chuyện ấy “bay” lên mặt nước, được các thợ lặn kháo nhau và ông được biết đến nhiều qua những đồn đoán như một giai thoại của đời lặn biển.

“Nghiện" biển

Đến Hàm Ninh, chúng tôi đã thấy được sự nổi tiếng của Sáu Hà khi hỏi nhà ông hầu như ai cũng biết. Có người còn nhiệt tình xách xe dẫn khách đến tận lối ra xóm lặn. Thấy khách lạ đến hỏi, người đàn ông khoảng 50 tuổi có thân hình “phì nhiêu” tỏ vẻ ngạc nhiên: “Tui có quen chú hả?”. Nhưng ngay sau đó, ông trở nên vui vẻ khi biết chúng tôi là nhà báo.


 Câu chuyện bắt đầu khi ông canh cánh rằng vùng biển này bây giờ bị các ghe cào quấy rối dữ quá. Họ “nuốt” trọn từ mặt nước xuống đáy sâu, hủy hoại cả những thứ mà họ không lấy được. Ông nói như thể biển là cánh đồng của nhà mình xanh tốt bỗng có người cho máy vào bừa xới. Biển bị “xử tệ” như thế nên thợ lặn ngày càng khó kiếm sống hơn.

Sau thời gian bị vợ không cho xuống biển vì chứng cao huyết áp, Sáu Hà không cưỡng nổi thôi thúc, tìm cách về với biển. Hôm chúng tôi đến, ông và các thợ lặn trong xóm Bãi Bổn (xã Hàm Ninh, H.Phú Quốc, Kiên Giang) lui cui trét chai cho chiếc ghe mới, chuẩn bị hạ thủy. Ông nói “nhờ” bệnh, bị giảm cân mà ông bây giờ đã “gọn” hơn trước, chỉ còn trên 130 kg. Nhưng bao nhiêu đó cũng đủ để ông giữ chắc kỷ lục là thợ lặn… có trọng lượng nặng nhất xứ đảo. Có lẽ, một điều cơ bản khác hơn giữa ông với nhiều thợ lặn xuống đáy biển kiếm cơm là ông xuống biển gần như là một nhu cầu. Sáu Hà nói ông trở nên “nghiện” đáy biển lúc nào không hay. “Tui ở nhà hoài bứt rứt lắm chú. Nhà không có ghe tui cũng quá giang ghe khác đi biển hà”, ông cười khà.

Chứng "nghiện" biển với ông đã có từ thuở mới 8-9 tuổi, lúc theo cha đi kiếm sống. Thấy con ở trên xuồng không chịu ngồi yên, cha ông đã “quẳng” Sáu Hà xuống biển, buộc dây cho đeo lủng lẳng vào cột chèo. “Lúc đó dưới biển “đồ” nhiều lắm; hải mã, ốc nhảy, đột trắng (hải sâm) còn rất nhiều. Mà người ta cũng đâu có “vùi” dưới biển như bây giờ, đúng là người khôn của khó”, Sáu Hà nói.

Thích ngủ dưới... biển

Mười tuổi, Sáu Hà đã học lặn “hơi tài”, lặn bắt các sản vật ở gần bờ. Đến khi các thợ lặn có thêm sự trợ giúp của bình nén khí thì việc ở lì dưới đáy trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trung bình một thợ lặn cũng chỉ có thể lùng sục dưới sâu nhiều nhất 2-3 giờ. Bởi nếu ở lâu dưới đáy, áp suất và nhiệt độ thấp dễ dẫn đến nguy cơ bị “tê”. Song, với Sáu Hà thì khác. Ông nói nếu không đói và đủ dưỡng khí, ông có thể ở dưới đáy biển cả ngày mà không cần ngoi lên. Thời gian ở dưới đáy lâu là vậy, nhưng ông ít khi bắt được nhiều sản vật hơn các thợ lặn khác. Ông thú nhận, khi xuống biển, ông rất thong dong và thường xuyên... đánh giấc mỗi khi buồn ngủ.



Chuyện Sáu Hà ngủ dưới biển, lần đầu được ông nhìn nhận như là một tai nạn hơn là “thi thố” gì. Cách nay gần 10 năm, trong một lần lặn bắt hải mã, bạn lặn thấy ông nằm bất động một chỗ. Anh này hoảng hốt vì nghĩ ông đã bị “tê”. Nhưng khi đến gần khều nhẹ thì ông giật mình tỉnh dậy. Sáu Hà nhớ lại: “Hôm đó tui nhậu nhiều quá, sáng xuống biển cứ thấy buồn ngủ. Biết ngủ dưới này là nguy hiểm, tôi cũng cố gắng đi kiếm “đồ”. Nhưng rồi chẳng bao lâu lại ngủ thiếp đi lúc nào không hay”.

Lúc đầu, khi nghe chuyện Sáu Hà ngủ dưới biển ai cũng nghĩ là... chuyện tiếu lâm, bởi chẳng ai dại đến mức chui xuống biển mà ngủ. Nhưng rồi sau đó, thỉnh thoảng người ta lại thấy ông “đứng hình” dưới đáy biển, bạn lặn phải đánh thức ông dậy. Có người cắc cớ thấy ông ngủ đã đến gần “cúp” ống hơi, không thở được ông lại choàng tỉnh. Lâu dần, khi xuống biển ai cũng lo kiếm “đồ” để bán, chẳng còn quan tâm nhiều chuyện bạn lặn “liều” như thế. Nhiều lúc Sáu Hà phải mất hồn khi đang ngủ trong vô thức đã nhả luôn ống hơi khỏi miệng. Bị vuột ra, chiếc ống không đứng một chỗ mà “nhảy” khắp nơi, làm ông rất khó khăn bắt lại. Có những lần không bắt kịp ống hơi, ông một phen uống đầy nước biển.

Nhiều lần riết rồi thành thói quen, không ai còn lạ gì khi thấy Sáu Hà đánh giấc dưới đáy sâu. Lúc ông xuống biển, người trên tàu thấy bọt khí di chuyển thì biết ông đang làm, còn thấy nó đứng một chỗ thì biết đích thị ông lại ngả lưng vào đâu đó mà đánh giấc. Ông “chia sẻ” cảm giác ngủ dưới đáy biển: “Nó rất dễ chịu, mát hơn ngủ phòng có máy điều hòa và không sợ ai quấy rầy”. Tuy nhiên, trong các thợ lặn ở biển Tây, có lẽ duy nhất ông có cảm giác kỳ lạ và “dễ chịu” như thế.

Khi biết Sáu Hà có thói quen kỳ khôi như thế, người nhà cũng không khỏi lo lắng. Đến khi ông bị chứng cao huyết áp giày vò, vợ và các con ngăn không cho ông đi biển nữa. Nhưng không đi biển thì lại buồn, lại “nóng nực chịu không nổi”, lại thêm bạn nhậu rủ rê, thế là ông lại có cớ nói với bà nhà xuống biển vừa tránh sa vào chè chén, lại kiếm được tiền. Lý do quá hợp lý, khiến vợ ông không còn cách nào để ngăn ông trở lại biển.

Nhìn chiếc ghe mới, Sáu Hà háo hức như đứa trẻ vừa được cho quà. Hôm chúng tôi đến, ông nói vậy là mình sắp được trở lại đáy biển. Lần này, ông sẽ lặn cả ban đêm, là lúc nhiều sinh vật biển ra khỏi nơi ẩn nấp, dễ kiếm tiền hơn. Cũng còn bởi với ông, lặn biển đêm hay ngày chẳng khác nhau là mấy.


Mua bán sản phẩm tại bến đậu của các thợ lặn ở Phú Quốc - Ảnh: T.T



“Quái kiệt” Nguyễn Văn Hà, thợ lặn được biết đến như người có sở thích... ngủ dưới đáy biển - Ảnh: T.T



Tiến Trình

"TRĂM NĂM BIA ĐÁ THÌ MÒN, NGÀN NĂM BIA MIỆNG HÃY CÒN TRƠ TRƠ"

Nhà độc tài nào sau khi ra đi cũng trở thành bia cho không biết bao nhiêu những lời đàm tiếu của thiên hạ. Năm 1986, người ta nói đến trên 3,000 đôi giày đã trở thành bảo tàng viện của bà Imelda Marcos, phu nhân của cựu tổng thống Phi Luật Tân, ông Ferdinand Marcos. Sau đó, người ta lại bàn tán về những đôi giày của bà Elena, vợ của nhà độc tài Ceaucescu bị hành quyết tại Rumani.

Khi vợ chồng của cựu tổng thống Marcos bị bắt buộc phải bỏ nước Phi, dân chúng đã tuôn đến dinh tổng thống như một ngày hội: họ đến đó chỉ để xót xa so sánh cái cảnh giàu sang quá mức của gia đình nhà độc tài với cái đói khổ mạt rệp của dân chúng. Người dân Phi nói rằng, trong 9 năm liền, bà Imelda Marcos chỉ có thể mang một đôi giày không quá 3 lần là cùng. Sau khi hành quyết vợ chồng Ceaucescu, người ta mới khám phá ra rằng căn nhà mà họ cho là bình thường của họ chính là một biệt thự sang trọng với 40 phòng khác nhau được trang trí bằng những bức tranh đắt giá, phòng tắm được khảm bằng vàng. Mỗi phòng đều có truyền hình và máy video.

Tài sản của ông Ceaucescu cũng không thua kém gì những của cải biển lận của ông Noriega, cựu tổng thống bị truất phế của Panama. O�ng tướng này không chỉ có những căn nhà lộng lẫy trong nước, mà còn không biết bao nhiêu biệt thự tại Pháp và các nước khác. Máy bay và những chuyến du thuyền của ông không còn là những phương tiện để di chuyển, mà là cả một thú sưu tầm.

Không có một nhà độc tài nào mà không tham lam tiền của. Người ta nói đến hàng tỷ Ðôla của ông Marcos. Nhà độc tài của một nước nghèo nàn như Haiti cũng có đến 400 triệu Mỹ kim. Somoza, người bị lật đổ tại Nicaragua, thì có đến hàng trăm triệu Ðô la đầu tư vào những kinh doanh đồi trụy như đĩ điếm, cờ bạc. Cựu hoàng đế Pokassa của một nước nghèo nàn lạc hậu như Cộng Hòa Trung Phi bên Phi Châu, đã làm lễ đăng quang năm 1976 với một phí tổn là 20 triệu Mỹ kim. Và hiện nay, người ta ước tính tài sản của tổng thống Zaire là ông Mobutu Sese Seko lên đến gần 5 tỷ Mỹ kim.

Giá của những tài sản bất chính ấy thường giống nhau: một cuộc lưu vong nhục nhã, một cuộc chốn chạy không kèn không trống, một cuộc hành quyết dã man hay một cuộc sống trong lo sợ từng ngày và làm mục tiêu cho những oán ghét.

Mỗi dịp đầu năm, dường như ai cũng muốn làm một quyết tâm. 50% người Hoa Kỳ quyết tâm giảm thiểu sự ăn uống để gìn giữ sức khỏe.

 Ðối với người Kitô chúng ta, sức khỏe tinh thần, sự cường tráng tâm linh có lẽ là điều quan trọng hơn cả. Quyết tâm của chúng ta phải là quyết tâm điều chỉnh lại sự lựa chọn cơ bản của chúng ta. Ðâu là cùng đích của cuộc sống chúng ta? Ðâu là lý tưởng của chúng ta? Ðâu là giá trị cao cả nhất trong cuộc sống của chúng ta? Tiền bạc và nhất là tiền bạc bất chính có đem lại hạnh phúc cho đời Người không?
Tác giả Veritas
 

3 tháng 1, 2012

Đêm nay có mưa sao băng

(TNO) Ông Nguyễn Đức Phường, Phó tổng thư ký Hội thiên văn và vũ trụ Việt Nam, cho biết vào lúc 23 giờ đêm nay 3.1, cùng với người dân nhiều nơi trên thế giới, chúng ta có cơ hội được chiêm ngưỡng trận mưa sao băng đầu tiên và cũng là trận mưa sao băng lớn của năm 2012: mưa sao băng Quadrantids.

Theo ông Phường, trong trận mưa sao băng này, số sao băng dự đoán khoảng 40 vệt/giờ tại thời điểm cực đại. Thậm chí trong điều kiện quan sát tốt, dự đoán có thể lên đến 120 vệt/giờ tại cực đại của cực điểm.

“Nguồn gốc của trận mưa sao băng này là khi Trái đất đi vào đám bụi vốn là tàn dư của thiên thể 2003 EH1 và thiên thể này được dự đoán là một phần của sao chổi C/1490 Y1 được các nhà thiên văn ở Đông Á quan sát cách đây 500 năm trước”, ông Phường giải thích.

Để quan sát trận mưa sao băng này, theo ông Phường, chúng ta hướng mắt về phía chòm sao Mục Phu nơi diễn ra tâm điểm của trận mưa sao băng này. Mưa sao băng không ảnh hưởng đến mắt nên quan sát hiện tượng thiên nhiên kỳ thú này bằng mắt thường là tốt nhất.

Quang Duẩn

HÃY ĐẾN CÙNG GIUSE

                    
BẢO TRỢ NHI ĐỒNG
         *******
KẺ MÙ ĐƯỢC SÁNG

     Chú Giuse Vũ Văn Tình, vợ là Maria Phạm Thị Thanh Lan ở kinh 5, Cái Sắn. Có đứa con Giuse Vũ Bảo Kiếm. Lúc được 10 tháng, cháu bị đau mắt, cứ nhắm mà khóc không mở ra được.
     Khi đem cháu lên Thành Phố hồ Chí Minh, bác sĩ Nguyễn đình Cát, chuyên viên thời danh nhãn khoa, cho biết hai con ngươi đã lủng, không trông chữa được nữa.
     Nghe vậy anh chị buồn bã, bế con đến Thánh Giuse Chí Hoà xin Người cứu chữa. Linh mục toà khấn, banh mắt cháu ra xem, thì con ngươi đã hỏng, chỉ còn hai lỗ đen ngòm.
     Sau khi đọc kinh khấn và dâng bé Giuse cho Thánh Cả. Cha mẹ cháu đem về nhà trọ. Ngay tối đó, cháu đã mở được mắt và nhìn theo ánh đèn.
     Sau 10 ngày chữa trị nơi Bác sĩ Tiên, hai mắt đã sáng lại, có người hỏi bác sĩ Tiên:
     Bác sĩ chữa được tật mù sao?
     Chúa chữa, chứ ai chữa được. Thầy tôi là bác sĩ Cát còn chịu bó tay nữa là !
     Mười hai năm sau, ngày 20/03/1994 Thím Tình lại lên đền tạ ơn và cho biết cháu Kiếm đã khoẻ mạnh, học giỏi, mắt rất tinh, tuy còn hai vết sẹo nhỏ ỡ con ngươi như để làm dấu và nhớ ơn.
LM. Phạm Châu Diên

Đắm say với cảnh sắc nơi phát tích Phật giáo Việt

Tọa lạc trên sườn phía Nam núi núi Lạn Kha (còn gọi là núi Phật Tích) ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.


Theo các sử liệu, chùa Phật Tích được xây dựng hoàn thiện vào năm 1057. Chùa giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam vì là nơi đầu tiên Phật giáo Ấn Độ truyền vào nước ta. Đây cũng là nơi gắn với huyền tích “Từ Thức gặp tiên” và tích Phật A Di Đà xuất hiện.

Năm 1066, vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) cho xây dựng tòa bảo tháp kì vĩ, cao khoảng 40m bên sườn núi. Tương truyền, khi tòa tháp đổ, bên trong lộ ra một pho tượng Phật A di đà tạc bằng đá xanh nguyên khối. Trước sự kiện này, xóm Hỏa Kê cạnh chùa đã đổi tên thành thôn Phật Tích.

Chùa đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần qua nhiều thời kỳ lịch sử. Năm 1947, chùa đã bị thực dân Pháp thiêu rụi. Từ 1954 đến nay, chùa được khôi phục dần.

Hiện tại, khu vực núi Lạn Kha - chùa Phật Tích đang hoàn tất quá trình tôn tạo theo một quy hoạch tổng thể với qui mô lớn để trở thành một đại danh lam của đất nước. Tâm điểm của thắng tích này sẽ là một Đại Phật tượng cao 27m, phục dựng theo nguyên mẫu Bảo tượng A Di Đà của chùa. Toàn bộ vùng thắng tích sẽ được một rừng thông tâm linh bao phủ…


Dưới đây là một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận:
Chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.
Chùa đã bị phá hủy phần lớn vào năm 1947. Nhiều hạng mục công trình mới được khôi phục lại trong thời gian gần đây.
Tuy vậy, nhiều dấu tích của ngôi chùa cổ vẫn được lưu giữ, như những bức tường làm bằng đá xếp chồng lên nhau.
10 tượng thú bằng đá cao 1m vẫn được giữ gìn, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn. Chúng được tạo tác trong thế chầu phục để thể hiện sự cảm hóa của Phật pháp.
Tòa Tam bảo là nơi đặt tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh làm từ thời Lý, được coi là báu vật quốc gia của Việt Nam.
Ngay dưới chân tượng là tầng hầm, nơi trưng bày nền móng đại bảo tháp nổi tiếng của thời Lý mới được khai quật. Dựa vào diện tích gần 100m2 của nền móng, các chuyên gia ước tính ngọn tháp cao khoảng 42m..
Sau tòa Tam bảo là vườn tháp với 32 ngôi bảo tháp là nơi cất giữ xá lị của các bậc chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch tại chùa. Phần lớn các tòa tháp được dựng vào thế kỷ 17. 
Vườn hoa mẫu đơn ở sân chùa, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên đã được phỏng dựng. Theo câu chuyện này, Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên...
Từ sân chùa, có một lối đi xuyên qua rừng thông để lên đỉnh núi.
Trên đỉnh núi đặt Đại Phật tượng A Di Đà, cao 27m, thực hiện theo nguyên mẫu bảo tượng A Di Đà trong chùa.  Công trình được khánh thành vào dịp mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010 và là pho tượng Phật bằng đá lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại. 
Cách Đại Phật tượng không xa là tòa bảo tháp cao vút.
Phong cảnh vùng đất Kinh Bắc nhìn từ đỉnh núi Lạn Kha.
Hồng Quân
Theo: Dat Viet