Nhạc nền

** *
Photobucket* Photobucket *
PHÔI PHA

28 tháng 12, 2011

ĐỨC MARIA

(CN Lễ Mẹ Thiên Chúa) (Ds 6,22-27; Gl 4,4-7; Lc 2,16-21)

Giáo Hội dâng kính ngày đầu năm mới để tôn vinh Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria được tràn đầy ân phúc và Thiên Chúa ở cùng. Trong giây phút linh thiêng nhiệm mầu, Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Thiên Chúa đã chọn và gìn giữ Mẹ Maria khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ ngay từ khi được thụ thai trong lòng mẹ, bà Anna. Maria là một thụ tạo tuyệt tác mà Thiên Chúa đã để mắt trông xem. Mẹ đã lãnh nhận tất cả các hồng ân tuyệt vời một cách nhưng không. Chúa đã yêu thương và Mẹ đã đáp lại tình yêu bằng cả tấm lòng.
Thiên Chúa đã tác tạo vũ trụ từ hư không. Người đã tạo dựng muôn loài trên trời dưới đất qua Lời của Người. Các loài có sự sống đều bởi tay Người sáng tạo. Sự sống là một mầu nhiệm không ai có thể hiểu thấu. Riêng con người, Thiên Chúa đã tạo dựng và ban cho thần khí sự sống có hồn và xác. Tất cả mọi loài thụ tạo trong vũ trụ đều được tác thành bởi Ngôi Lời. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành (Ga 1,3). Khoảng 700 năm trước khi Đấng Cứu Thế ra đời, Tiên tri Isaia đã loan báo cho vua Ahaz rằng: Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel.
Trong Kinh Thánh Cựu Ước có kể những câu truyện về các bà mẹ son sẻ được Thiên Chúa đoái thương nhìn đến. Những người con đặc biệt ưu tú này đã góp phần quan trọng trong chương trình cứu độ. Ông Abraham và bà Sara lớn tuổi mà hãy còn son sẻ, một hôm có 3 vị khách lạ là các Thiên thần Chúa đến viếng thăm. Một vị đã lên tiếng: Người nói: “Sang năm, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Xara vợ ông sẽ có một con trai”. Bà Xara bấy giờ đang nghe ở cửa lều, phía sau (St 18,10). Bà Sara đã sinh ra người con duy nhất là Isaac.
Trong sách Samuel quyển thứ nhất kể câu truyện bà Anna vợ ông Encana, bà cảm thấy nhục nhã xấu hổ vì bị son sẻ không con. Bà đã cậy trông và đặt niềm tin tưởng nơi Chúa. Bà khấn hứa rằng: “Lạy Thiên Chúa các đạo binh, nếu Ngài đoái nhìn đến nỗi khổ cực của nữ tỳ Ngài đây, nếu Ngài nhớ đến con và không quên nữ tỳ Ngài, nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho Thiên Chúa mọi ngày đời nó, và dao cạo sẽ không đụng tới đầu nó” (1 Sm 1,11). Ông bà đã được Thiên Chúa nhận lời và cho sinh con. Ngày qua tháng lại, bà Anna thụ thai, sinh con trai và đặt tên cho nó là Samuen, vì bà nói: “Tôi đã xin Thiên Chúa được nó” (1 Sm 1,20).
Khi quân Philitinh quấy nhiễu và đánh phá Dân Dothái, Thiên Chúa đã can thiệp nâng đỡ. Thiên Chúa sai Thiên Thần hiện ra với vợ ông Manuel và nói: Ngươi son sẻ không con, nhưng sẽ được thu thai và sinh một con trai (Tl 13,3). Bà đã hạ sinh con trai và đặt tên là Samson. Samson đã trở thành một thủ lãnh dũng cảm chiến thắng quân thù.
Để chuẩn bị dọn đường cho Chúa xuống trần, Thiên Chúa sai sứ thần đến với ông Zacaria. Ông Zacharia và bà Elizabeth tuổi đã già mà không có con. Một hôm, thầy cả Zacaria vào đền thờ dâng hương và Thiên thần Chúa đã hiện ra cùng ông. Thiên Thần nói: Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: Elizabeth vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai và ngươi sẽ gọi tên trẻ là Gioan (Lc 1,13). Các bà là những người thật hạnh phúc được Thiên Chúa đoái thương và ban ơn. Và một người nữ được hạnh phúc hơn các người phụ nữ là Đức Maria. Khi Maria đến thăm bà Elizabeth, bà đã thốt lên lời ca ngợi: Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? (Lc 1,42-43).
Sự kiện Đức Maria được tham dự vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa là một vinh dự cho cả loài người. Đức Maria đã đáp lời ‘xin vâng’ với Thiên thần để công cuộc cứu rỗi trở thành hiện thực. Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa. Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng trinh nữ là Con Thiên Chúa từ đời đời. Emmanuel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đức Maria là mẹ ngay từ khi Chúa Giêsu được thụ thai trong cung lòng. Danh hiệu là Mẹ đã đi vào đời đời.
Đức Maria là Evà mới. Maria được Thiên Chúa ở cùng và có phúc hơn mọi người nữ. Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong cung lòng Mẹ. Ngôi Lời hiện hữu từ đời đời đã hoá thành nhục thể. Khi thời gian chuẩn bị đã mãn, Con Thiên Chúa đã đi vào thời gian và không gian để trở thành con người như mọi người. Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Mẹ Maria mang thai Con Chúa trong cung lòng đủ ngày đủ tháng như các trẻ sơ sinh khác. Con Chúa chấp nhận thân phận người, khởi đi từ trong dạ mẹ và thân xác phát triển qua từng giai đoạn. Thân xác của Chúa cùng chia sẻ máu thịt của mẹ. Khi tới ngày mãn nguyệt khai hoa, Chúa Hài Nhi đã vào đời. Những tháng ngày mới giáng sinh còn non nớt, Chúa Con hoàn toàn cậy dựa vào sự bảo vệ, chở che của Mẹ và Thánh Giuse. Mẹ đã ẵm bế và cho bú mớm. Thánh Giuse đã ôm ấp, chở che. Đức Mẹ và Thánh Giuse đã luôn yêu thương, trọng quý và hết sức mình để bảo vệ và dưỡng nuôi.
Đức Mẹ đã đồng hành với con mình suốt cuộc đời. Mẹ đã chia sẻ buồn vui, đắng cay và sầu muộn. Suốt 30 năm Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Thánh Giuse đã chung sống những chuỗi ngày thật lặng lẽ và hạnh phúc bên nhau. Đức Maria tin nhận và Thánh Giuse cũng nhận biết Người Con Giêsu là Con Thiên Chúa. Khi mãn cuộc đời dưới thế, Mẹ Maria được Thiên Chúa thưởng ban hạnh phúc thiên đàng cả hồn lẫn xác.
Qua mọi thời, Giáo Hội hằng tôn kính Đức Maria như lời Mẹ đã ngợi khen Chúa: Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn (Lc 1,48-49). Giáo Hội cũng như các Thánh Giáo phụ đã dâng kính mẹ Maria những tước hiệu và danh xưng cao cả nhất. Chúng ta có thể nhận biết các danh hiệu trong Kinh Cầu Đức Bà. Mẹ là Nữ Vương trên trời dưới đất. Mẹ là Nữ Vương các Thiên thần và các Thánh. Mẹ là Hòm Bia Thiên Chúa… Giáo Hội đã tôn xưng Đức Mẹ với hơn 70 tước hiệu đáng kính. Giáo Hội còn tuyên xưng 4 tín điều: Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (ĐGH Piô IX, 8-12-1854); Đức Mẹ Đồng Trinh Trọn Đời (Xác tín bởi các Giáo phụ vào thế kỷ thứ 4 và 7 Công đồng đầu tiên); Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Công đồng Êphêsô 431); và Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (ĐGH Piô XII, 1-11-1950). Đức Mẹ cũng đã hiện ra rất nhiều lần và nhiều nơi trên thế giới để mời gọi con dân quay về với Thiên Chúa.
Chúng ta có Mẹ, đó là một hạnh phúc tuyệt vời. Mẹ của Chúa Giêsu là đầu nhiệm thể mà chúng ta là chi thể. Vì thế, Mẹ Maria là Mẹ Giáo Hội và là Mẹ của mỗi người chúng ta. Chúng ta cùng tôn vinh danh Mẹ trong ngày đầu năm mới, xin Mẹ dẫn dắt chúng ta đến gần Chúa Giêsu. Xin Mẹ cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử. Amen. 
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Đức Mẹ và Hòa bình

(Lễ Mẹ Thiên Chúa – Ngày Hòa bình Thế giới)

 

Ngày 1 tháng 1 là ngày rất đặc biệt đối với thế giới, cả đạo và đời, vì đó là ngày khởi đầu năm mới. Với người Âu Tây, đó là ngày Tết; với quốc tế, đó là ngày Hòa bình Thế giới; với người Công giáo, đó là ngày lễ Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta mới vừa mừng lễ Giáng sinh để tôn vinh Con Thiên Chúa, liền sau đó lại tiếp tục mừng lễ Mẹ Thiên Chúa để tôn vinh Mẹ Thiên Chúa. Giáo hội tạo một nối kết tuyệt vời để đề cao Tình Mẫu Tử!
Không biết Thiên Chúa có “tiền định” hay không mà các ngôn ngữ đều mở miệng gọi Mẹ bằng âm bật mở đầu bằng M. Chẳng hạn cách gọi người sinh ra mình là Mẹ hoặc Má (tiếng Việt), Mother (Mom, Mum – tiếng Anh), Mère (Maman – tiếng Pháp), Mutter (Mumie – tiếng Đức), Madre (Mamá – tiếng Tây Ban Nha), Madre (Mamma – tiếng Ý), Moeder (Mummie – tiếng Hà Lan),… Nhưng khi gọi Cha thì các nước không dùng chung âm mở đầu, mỗi nước mỗi khác. Phải chăng đây là “đặc cách” mà Thiên Chúa đã dành cho Đức Mẹ, Mẹ của những người Mẹ, và tất cả những phụ nữ làm Mẹ?
Nói đến mẹ thì luôn liên quan con. Tình Mẫu Tử có gì đó rất kỳ diệu, hầu như chúng ta không thể hiểu hết. Dù người con tật nguyền, không đẹp, thậm chí là hư hỏng, phản bội, nhưng vì “nước mắt luôn chảy xuôi” nên người Mẹ vẫn sẵn sàng tha thứ và vẫn yêu thương hết lòng. Người bàng quan có thể trách người Mẹ là nhu nhược, là sợ sệt, nhưng ai đã làm Mẹ mới khả dĩ hiểu thấu. Thế mới là Tình MẫuTử đích thực – trong đó Tình Phụ Tử đích thực cũng được “hiểu ngầm”. Không thể chỉ kính trọng Tình Mẹ mà “coi nhẹ” Tình Cha, vì người Mẹ khởi đầu cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc; người Cha khởi đầu cho ý chí, niềm tin và sức mạnh.
Truyện kể rằng có một loài chim đặc biệt rất thương con đến quên cả bản thân mình. Khi không có mồi cho con ăn, loài chim này lấy chính thịt mình để cho con ăn. Loài vật còn như vậy huống chi con người – loại sinh vật cao cấp nhất. Xin được mở ngoặc: Giữa năm 1974, khi ĐGM Giuse Lê Văn Ấn (GM tiên khởi của giáo phận Xuân Lộc) qua đời, loài chim “lấy thịt mình nuôi con” kia đã đậu trên đỉnh nóc nhà thờ chính tòa Xuân Lộc từ khi ngài qua đời đến lúc an táng xong. Người ta cho đó là “dấu lạ” vì hợp với khẩu hiệu giám mục của ĐGM Ấn là “Hãy Giết Mà Ăn” (*).
Sách Dân số cho biết rằng Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy nói với Aharon và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ítraen, anh chị em hãy nói thế này: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh chị em và dủ lòng thương anh chị em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh chị em! Chúc như thế là đặt con cái Ítraen dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6:22-27). Kinh thánh luôn rõ ràng và chính xác, nghĩa là những người làm cha làm mẹ – và những “người lớn” có trách nhiệm chăm sóc những “người “nhỏ” – cũng phải thực hiện như vậy. Cha Mẹ sửa dạy con cái hoặc người trên có sửa dạy người dưới thì phải sửa dạy bằng tình yêu thương.
Nói về Tình Mẹ, người ta có thể nhớ ngay đến ca khúc Lòng Mẹ, một ca khúc bất hủ của cố nhạc sĩ Y Vân, viết về chính người Mẹ của ông: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Lòng mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”. Giai điệu đơn giản mà có hồn, ca từ đẹp và nhẹ nhàng như chất nữ tính dịu dàng của người Mẹ vậy. Còn thi sĩ Hồ Dzếnh lại mơ ước:
Kiếp sau xin lại làm người
Để nghe non nước vọng lời mẹ ru
Được làm người là niềm hạnh phúc lớn, được nghe lời ru của Mẹ cũng là một niềm vui sướng. Gà con được núp dưới cánh gà mẹ thì không còn sợ diều hâu. Con ở bên Mẹ thì không chỉ an toàn mà còn hạnh phúc, bình an cả tinh thần và thể lý.
Gà mẹ xòe cánh
Để đánh diều hâu
Ngọt ngào tình mẹ
Thương con dạt dào
Một em bé (con chị K.H.) nói: “Mẹ là người tốt nhất”. Em bé này thật may mắn vì em rất hạnh phúc khi có được người Mẹ “số dzách”. Bất kỳ ai sống an toàn dưới “đôi cánh” của Mẹ thì đều được an tâm, được tận hưởng nền hòa bình thực sự.
Tình mẹ yêu thương
Biển trời lai láng
Bên mẹ nép cánh
Con sống an vui
Thế giới luôn xảy ra những biến cố, hầu như hàng ngày, do đó thế giới luôn khao khát hòa bình đích thực để mọi người được vui sống. Thế giới thiếu hòa bình vì người ta còn tranh giành quyền lợi, vật chất, còn lắm Tham-Sân-Si; người Kitô giáo thiếu bình an tâm hồn vì còn hướng chiều tội lỗi, vẫn tranh giành quyền lực. Người ta muốn được phục vụ chứ không muốn phục vụ theo tinh thần Đức Kitô, muốn sáng danh con chứ chưa thực sự muốn sáng Danh Chúa. “Cái tôi” dù đáng ghét (như Pascal diễn tả) nhưng “nó” vẫn trỗi dậy bất kỳ lúc nào khiến cho tính ích kỷ “lớn” hơn tình người, muốn chứng tỏ “đẳng cấp” của mình, muốn được Thiên Chúa xót thương nhưng lại không thể hiện Lòng Chúa Thương Xót. Quả thật, Chúa rất ghét “những người giả hình” (x. Mt 23:1-12).
Thiếu Tình Chúa và vắng Tình Mẹ thì chắc chắn không thể có hòa bình. Muốn tận hưởng hòa bình thì phải có công lý, đồng thời phải cầu nguyện: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết Ơn Cứu Độ của Ngài” (Tv 67:2-3). Đức Kitô đã từng xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Thánh vịnh 67 nói thêm: “Thiên Chúa cai trị toàn cầu theo lẽ công minh, Ngài cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này” (Tv 67:5). Ký thác đường đời cho Chúa, cũng là tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót, là thể hiện đức tin sống động. Đời người “cát bụi” chẳng là gì:
Thế gian ngắn ngủi – nơi sinh ký
Thiên quốc vĩnh hằng – chốn tử quy
Chân nhận như vậy để có thể chấp nhận bản chất yếu đuối của kiếp người. Chúa giáng sinh làm người là dấu hiệu “báo động đỏ” của thời cánh chung. Thật vậy, “khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5). Không chỉ vậy, để chứng thực chúng ta là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4:6). Vì thế, chúng ta “không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4:7). Người ta có thể từ con, còn Chúa lại nhận nghịch tử làm con yêu. Quá “ngược đời”, quá kỳ diệu và quá tuyệt vời! Chúng ta chỉ là những “tử tội khốn kiếp” mà lại được nhận làm con cái. Còn hạnh phúc nào hơn chứ? Đó là vừa là điều kỳ diệu vừa là “ẩn số” của tình Cha, nghĩa Mẹ.
(Lc 2:16-21
Hang đá là cảnh gia đình hạnh phúc, dù đó là cảnh nhà “nghèo nhất thế gian”. Trong đó “cảnh nghèo” đó có cả Tình Mẹ và Tình Cha. Những người đến thăm “gia đình nghèo” này cũng lại là những người “nghèo rớt mồng tơi”: Các mục đồng. Thánh Luca kể rằng sau khi các mục đồng được thiên sứ báo tin, “họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Các mục đồng có phước vì đã ghé thăm “tệ xá” của Thánh gia thất. Còn ngày nay, người ta (cả đời và đạo) chỉ thích “thăm viếng” các biệt thự, các villa, các nhà cao cửa rộng, các đại gia, những người “thở ra tiền, cười ra bạc, khạc ra vàng, sàng ra đô-la”. Và người ta có nhiều “cách biện hộ”.
Chúng ta phải học động thái ít nói và e ấp đầy nữ tính của Đức Maria. Tại sao? Vì Đức Mẹ nghe mục đồng kể lại điều đã được nói về Hài Nhi, rồi Đức Mẹ “hằng ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng” (x. Lc 2:17-19). Kinh thánh tường thuật: “Khi ra về, các mục đồng vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (x. Lc 2:20). Họ nghèo mà hạnh phúc, họ hạnh phúc vì họ được gặp Vua Nghèo Giêsu, thế là họ bình an, nghĩa là họ hưởng nền hòa bình đích thực. Đúng như ca đoàn thiên thần hát vang trong Đêm Giáng Sinh:
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người lòng ngay (Lc 2:14)
Chỉ có người lòng ngay mới là người được Chúa thương, chỉ có người thiện tâm mới được tận hưởng nền hòa bình chân chính đúng nghĩa. Người đó là ai? Là người noi gương sống của Thánh Nhi Giêsu, Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse.
Thôn nữ Maria sinh Con Trẻ, bắt đầu thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa. Sau 8 ngày, đến lúc phải làm lễ cắt bì cho Con Trẻ theo luật Do Thái, Hài Nhi được đặt tên là Giêsu, tên mà sứ thần đã đặt cho Em Bé trước khi Em Bé được thụ thai trong lòng Mẹ. Bắt đầu có niềm hạnh phúc làm Mẹ thì cũng là lúc bắt đầu chuỗi ngày gian khổ, thậm chí là đẫm nước mắt…
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn “biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người” (Thánh Phanxicô Assisi), luôn là “khí cụ bình an của Chúa”, biết bảo vệ công lý để có thể kiến tạo hòa bình đích thực. Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết “nói ít và làm nhiều” như Mẹ, để có thể vãn hồi hòa bình ngay từ trong gia đình hàng ngày. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Ai đó làm 2 câu thơ độc đáo: “Cây XUÂN nảy LỘC đầu Sáu sáu, Quả ĐỨC thành NHÂN giữa Bảy tư” – nghĩa là GP Xuân Lộc được thành lập đầu năm 1966, ĐGM Giuse Lê Văn Ấn qua đời giữa năm 1974.
---------------------------------------

Tác giả bài viết: TRẦM THIÊN THU

LỄ CÁC THÁNH ANH HÀI TỬ ĐẠO

ĐÔI DÒNG SUY TƯ Ngày thứ 4 trong tuần bát nhật Giáng Sinh, lịch phụng vụ mời gọi ta kính nhớ tới các thánh Anh Hài Tử Đạo. Các thánh Anh Hài là ai? Xin thưa, các ngài là những nạn nhân của quyền lực bóng đêm, đã được phúc tử đạo khi chưa thể tự vệ, chưa thể lo cho chính bản thân mình, các ngài chết thay cho Đấng Cứu Thế khi quyền lực sự dữ, quyền lực bóng đêm xâm nhập vào con người của bạo chúa Hêrôđê.


Thật lạ kỳ, khó hiểu! Không lạ kỳ và không khó hiểu sao được? Trong đêm Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần muôn vàn thiên binh, hợp với Sứ Thần cất vang: “Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời, Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm”(Lc.2,14). Thế nhưng, chỉ ít ngày sau khắp kinh thành Bêlem và các vùng lân cận bị bao phủ một màu tang, thêm vào đó là những tiếng khóc ai oán của những người mẹ mất con như trình thuật Tin Mừng của Thánh Mát-thuê: “Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rên rỉ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt.2,17-18).

Để giải đáp thỏa đáng cho ta những lạ kỳ và khó hiểu trên, giờ ta cùng với nhau hướng về Chúa Thánh Thần, nhờ ơn soi sáng của Ngài giúp ta hiểu được chút ít về chương trình của Thiên Chúa, nhất là qua những biến cố liên quan đến mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi hai Thiên Chúa, đặc biệt về sự hy sinh của các thánh Anh Hài mà Giáo Hội mời gọi ta kính nhớ hôm nay.

Một câu chuyện kể rằng: Hai người đàn ông cầu nguyện nơi sân nhà thờ, trước tượng Chịu Nạn, một ông vừa cầu nguyện vừa khóc nức nở, bỗng dưng Chúa hiện ra và hỏi:

  • Này con! Sao con lại khóc? Ông ta sụt sùi trả lời:

  • Lạy Chúa! Con buồn lắm, con muốn đến và ở lại trong nhà thờ, nơi Chúa đang chờ đợi con, ban cho con bình an và sức mạnh của Chúa, nhưng người ta đuổi và cấm không cho con vào. Đôi mắt buồn, Chúa đáp lời:

  • Này Con! Đừng buồn nữa, Ta hiểu, chính Ta mà người ta còn đuổi và không cho vào huống chi là con! Nghe lời đó người đàn ông cùng cầu nguyện chung bỗng lớn tiếng:

  • Lạy Chúa! Chúa nói thế sao được, con làm sao dám đuổi và cấm Chúa vào nhà thờ, Chúa liền phán:

  • Này con! Con có biết, khi con đuổi và cấm người anh em con đây vào nhà thờ là con đã thực hiện những điều đó cho chính Ta không!

Ngày Con Thiên Chúa giáng trần, niềm vui và bình an đã tràn ngập tâm hồn Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, các chú Mục Đồng và ba nhà Đạo Sỹ, tất cả đều đại diện cho một nhân loại đang sống dưới quyền lực của bóng đêm, của sự dữ. Nhưng điều đó lại trái ngược hoàn toàn với bạo chúa Hê-rô-đê, khởi đi từ lòng tự ái, tính ích kỷ, tham lam, sợ mất quyền lợi và danh vọng cộng thêm việc không tin, khước từ Thiên Chúa đã đưa đến cho Hê-rô-đê sự bất an, nóng giận cao độ.

Có thể nói nơi con người của bạo chúa Hê-rô-đê đã bị quyền lực bóng đêm, quyền lực sự dữ sẽ lấn áp, từ đó đưa đến việc ông ta không tin có Thiên Chúa, không cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, ông ta sợ sự xuất hiện của Hài Nhi Giêsu như lời tiên báo của các ngôn sứ trong Kinh Thánh sẽ ảnh hưởng đến chiếc ghế danh vọng mà ông đang sở hữu, hơn nữa, sau khi ba nhà Đạo Sỹ tìm đến bái thờ và dâng quà tặng cho Hài Nhi Giêsu đã không trở lại với ông vì được Thiên Chúa mách bảo qua giấc mộng. Từ đó, Hê-rô-đê lồng lộn như “sói dữ tham mồi”, để rồi sau đó, ông ta nhúng tay vào tội ác qua việc tìm giết Hài Nhi Giêsu, tiếp theo đó là việc giết hại các trẻ em vô tội, đem đến cho các bà mẹ và khắp kinh thành Be-lem sự hoảng loạn và mất bình an.

Vâng! Qua người đàn ông trong câu chuyện trên và qua cách hành xử của Hê-rô-đê cho ta thấy quyền lực sự dữ đang ẩn nơi con người, từ con người qua sự xúi bẩy của chúng đã đem đến cho nhau những mất bình an, những chết chóc và khổ đau. Chính vì những điều đó đang thống trị con người nhân loại mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã bước xuống cõi trần để cứu và dẫn đưa con người nhân loại về với ánh sáng, về với tình thương của Thiên Chúa như lời của ông Giacaria, khi được tràn đầy ơn Thánh Thần, ông nói tiên tri về Ngôi Hai Thiên Chúa rằng: “ Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn,  cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối, và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an ” (Lc.1,78-79). 

Mừng kính các thánh Anh Hài Tử Đạo trong tuần bát nhật Giáng Sinh gợi mở cho ta một chân lý. Chân lý đó là: Sự Sống mới, sự bình an của Thiên Chúa đã và đang phủ tràn cõi địa cầu ngang qua Hài Nhi Giêsu, dẫu cho quyền lực sự dữ cố ngăn cản, phá hỏng bằng nhiều cách và nhiều phương thức khác nhau, câu chuyện bạo chúa Hê-rô-đê tìm giết Hài Nhi Giêsu và ra tay hạ sát các trẻ em với chiêu bài “giết lầm còn hơn bỏ xót” là một điển hình. Thế nhưng, “Quyền lực tử thần không thắng nổi” (Mt.16,18), Thiên Chúa có cách của Ngài trong việc thực hiện chương trình cứu độ nhân loại.

Các thánh Anh Hài đã chết thay cho Hài Nhi Giêsu, dẫu các ngài chẳng có công trạng chi to lớn, nhưng qua sự hy sinh của các ngài mời gọi ta nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, còn đó những bạo chúa Hê-rô-đê khước từ, chống đối Thiên Chúa, muốn “ thay trời hành đạo ” trong cách hành xử tàn ác, bất công với anh em đồng loại; nhiều bạo chúa Hê-rô-đê vì tiền, quyền, danh, lợi, đam mê mà loại trừ, sát hại anh em mình, nhất là những anh em bé nhỏ, nghèo hèn; tệ hại nhất là những bạo chúa Hê-rô-đê đang mang trong mình những trọng trách, những bổn phận của những người làm cha, mẹ, người con, người vợ, người chồng nhưng vì ích kỷ, hẹp hòi đã đang tâm giết hại chính con đẻ, người “ đầu ấp, tay gối”, giết hại chính các bậc sinh thành dưỡng dục nên mình bằng lời nói và hành động; qua cách sống trái ngược với Tin Mừng nơi ta là người Kitô hữu, cách sống đó đã đưa đẩy ta trở thành bạo chúa Hê-rô-đê làm biến dạng, xóa mờ hình ảnh tuyệt mỹ của Thiên Chúa, đôi khi ta lại trở thành những “ kỳ đà cản mũi” khi những người anh em chung quanh muốn tìm và đến với Chúa.

Là những người thừa hưởng nguồn ơn cứu độ, tiếp cận với ánh sáng Tin Mừng của Thiên Chúa ngang qua Đức Kitô, trước tiên ta cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương ta, kế đến ta tri ân các thánh Anh Hài, các ngài đã và mãi trở thành tấm gương cho ta trong đời sống dấn thân, hy sinh, nhắc nhở ta hay biết chết đi những thói hư tật xấu, chết đi chính con người ích kỷ của mình để Đức Kitô được sống, để rồi qua ta Thiên Chúa rộng đường ban ơn cứu độ cho mọi người nhất là những người chưa tin nhận Thiên Chúa

Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu! Nhờ lời chuyển cầu của các thánh Anh Hài, xin Chúa thương đến các thai nhi vô tội đang bị chính những người thân, đồng loại tước đoạt mạng sống. Xin Chúa thánh hóa và soi sáng cho những ai đang có ý định “quảng bá”, xúi bẩy, thỏa hiệp việc phá thai, để nhờ ơn Chúa họ nhận ra đây là tội ác “ Trời không dung, đất không tha”. Xin cho con trong từng ngày sống biết chết đi những đam mê, những thói hư tật xấu, biết hy sinh chính mạng sống mình để Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa được hiển trị. Amen 

Sài Gòn, ngày 27/12/2011
 Tác giả bài viết: Antôn Lương Văn Liêm

Tổ ấm

“Uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Người ơi, làm người ở trên đời, nhớ công người sinh dưỡng, đó mới là hiền nhân. Vì đâu anh nên người tài ba…”. Đó là lời trong ca khúc “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, đầy tính nhân bản, khá phổ biến suốt nhiều chục năm qua. Kinh thánh dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (Hc 3:1-16), kinh Phật dạy: “Tột cùng thiện không gì bằng có hiếu, tột cùng ác không gì bằng bất hiếu”.

Nói đến gia đình là nói đến yêu thương. Gia đình là Tổ ấm. Có tình yêu thương thì gia đình mới “ấm”, đầy ắp tiếng cười, chan hòa niềm cảm thông và tha thứ; ngược lại, thiếu tình yêu thương thì gia đình sẽ “lạnh”, không khí ngột ngạt, khó thở. Thật vậy, ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Thiên Chúa hiện diện. Có Thiên Chúa thì gia đình nghèo khó vẫn “ấm”, vắng Thiên Chúa thì gia đình giàu sang vẫn “lạnh”.
(Hc 3:3-7,14-17 Sách Huấn ca phân tích: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng. Người đó phục vụ các bậc sinh thành như phục vụ chủ nhân” (Hc 3:3-7). Không chỉ vậy, chính lòng hiếu nghĩa đối với cha mẹ sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho chính mình (x. Hc 3:14). Điều đó chứng tỏ Chúa và Giáo hội Công giáo rất tôn trọng chữ Hiếu, không như người ta lầm tưởng. Ai làm ngược lại là mắc trọng tội, vì “ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa” (Hc 3:16).
Ca dao Việt Nam cũng so sánh:
Con có cha như nhà có nóc
Con không cha như nòng nọc đứt đuôi
Và xác định:
Dù cho đi hết cuộc đời
Cũng không đi hết những lời mẹ ru
Ơn cha và nghĩa mẹ thật cao vời và bao la biết bao! Mỗi thành viên gia đình đều phải cộng tác với nhau để tạo nên một tổ ấm đích thực, một gia đình thánh cho hợp Thánh Ý Chúa. Đáp ca lễ Thánh Gia dùng Tv 128 nói về các giá trị gia đình: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128:1-3). Tác giả Thánh vịnh cho rằng “đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:4).
Cl 3:12-21; 3:12-17 Thánh Phaolô nói: “Anh chị em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh chị em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh chị em, thì anh chị em cũng vậy, anh chị em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3:12-13). Yêu thương và tha thứ luôn có liên kết với nhau: Tha thứ là thể hiện tình yêu thương, mà yêu thương thì phải tha thứ. Không thể làm cái này mà bỏ điều kia, làm một trong hai chỉ là nói dối.

“Trên hết mọi đức tính, anh chị em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3:15). Yêu thương là đức mến, mà đức mến lại quan trọng nhất trong ba đức đối thần, đến khi vào Thiên đàng rồi cũng vẫn còn và chỉ còn đức mến, không còn đức tin và đức cậy nữa. Thánh Phaolô nói thêm: “Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan” (Cl 3:16), và “anh chị em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3:17).

Thánh gia là gương mẫu cho các gia đình, nhưng có thể chúng ta chỉ “nghe và biết” mà không triệt để và tích cực thi hành. Do đó, thánh Phaolô nói chi tiết về vai trò và bổn phận của các thành viên trong gia đình: “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng” (Cl 3:18-21). Ai cũng biết trách nhiệm riêng và làm tròn bổn phận mình thì gia đình chắc chắc là một Tổ ấm thực sự vậy.

Gia đình như con thuyền lênh đênh trên “biển đời”, có lúc sóng yên biển lặng, nhưng có lúc lại đầy cuồng phong sóng vỗ. Thánh gia đã từng như vậy, không chỉ trước khi Chúa Con sinh ra mà vừa sinh ra cũng chẳng yên thân với những người ác – điển hình là vua Hêrôđê. Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho Đức Thánh Giuse: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” (Mt 2:13). Thế nên “gia trưởng” Giuse, người chống mũi chịu sao, liền trỗi dậy để đưa Vợ Con trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm tối. Thánh gia phải lưu trú ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, và cũng là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập” (Mt 2:18).
Sau khi vua Hêrôđê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với Đức Thánh Giuse bên Ai-cập, báo mộng cho ông: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi”. (Mt 3:20). Đức Thánh Giuse liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và Mẹ Người về đất Ítraen. Thật vất vả cho Đức Thánh Giuse! Cũng chưa yên, vì nghe biết Áckhêlao đã kế vị phụ vương Hêrôđê và cai trị miền Giuđê, nên Đức Thánh Giuse sợ không dám về đó, đành đưa Vợ Con lui về miền Galilê, đến ở thành Nadarét (Mt 2:21-22). Từ đó, Đức Giêsu nghiễm nhiên trở thành người Nadarét.
Người cha và người chồng có cái khổ của người cha và người chồng, người mẹ và người vợ có cái khổ của người mẹ và người vợ. Ai có bổn phận và trọng trách của riêng mình. Chồng hoặc vợ cũng đều lo cho gia đình và con cái, và cũng là lo cho hạnh phúc của riêng mình, đừng vì lý do gì mà “tị nạnh” hoặc “chảnh” mà lênh mặt và khinh miệt nhau. Trọng trách đó cũng chính là Ơn Gọi mà Thiên Chúa kêu mời để thực hiện trọn vẹn để chính mình nên thánh, đồng thời giúp các thành viên trong gia đình cùng nên thánh.
Gia đình là tế bào xã hội, là tế bào cơ bản, để từ đó có những đại gia đình khác là gia đình cộng đồng, gia đình làng xóm, gia đình quốc gia, gia đình nhân loại, gia đình Công giáo,…
Lạy Chúa, xin cho mỗi chúng con biết noi gương Thánh gia từng giây phút để có thể kiến tạo hòa bình và công lý, xây dựng văn minh tình thương, văn hóa sự sống, xứng đáng là thành viên thánh trong đại gia đình Công giáo. Chúng con cầu xin nhân Danh Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

 Tác giả bài viết: TRẦM THIÊN THU

NHỮNG VỊ THÁNH VÔ DANH


Có một vị thánh nọ thánh thiện đến độ, không hề dám có ý nghĩ rằng mình là một con người thánh thiện.
Ngày kia, một thiên thần đến nói với ngài: "Chúa sai tôi đến gặp ngài. Ngài hãy xin bất cứ điều gì ngài muốn. Chúa sẽ ban cho ngài. Vậy ngài có muốn được ơn chữa bệnh không?"
Vị thánh trả lời: "Không. Thà để cho chính Chúa chữa trị thì tốt hơn". Vị sứ thần đề nghị điều khác: "Ngài có muốn đem những người tội lỗi trở về đường công chính không?"
Vị thánh cũng lắc đầu từ chối: "Không. Cải hóa tâm hồn không phải là việc của tôi. Ðó là công việc của các thiên thần". Vị sứ giả của Chúa mới gợi ý thêm: "Ngài có muốn trở thành một mẫu gương để thiên hạ luôn đến để bắt chước không?"
Vị thánh cũng khiêm tốn trả lời: "Không. Bởi vì làm như thế tôi sẽ trở thành trung tâm thu hút sự chú ý". Thiên thần mới hỏi: "Vậy thì ngài mong muốn điều gì?". Vị thánh trả lời: "Ơn Chúa, có ơn chúa, đó là điều tôi hằng khao khát".
Vị thiên thần được Chúa sai đến vẫn chưa chịu bỏ cuộc, nên đề nghị lần cuối cùng: "Ngài phải xin một phép lạ. Nếu không tôi đành phải để phép lạ xảy ra vậy". Vị thánh của chúng ta đành phải ưng thuận: "Vậy thì tôi xin điều này: ước gì mọi việc thiện được thực thi qua tôi mà tôi không hề hay biết". Thế là để là cho lời ước của vị thánh thành sự thật, Thiên Chúa ban cho cái bóng phía sau của ngài được mọi thứ quyền năng. Nơi nào có cái bóng ngài đi qua, thì nơi đó, người bệnh được lành, đất đai trở thành phì nhiêu, nguồn suối phát sinh sự sống, niềm vui trở lại trên những khuôn mặt sầu khổ.
Nhưng vị thánh không hề hay biết điều đó, vì dân chúng chú ý đến cái bóng đến độ quên hẳn con người.
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ các thánh anh hài, những vị thánh đã chết vì Ðức Kitô mà cũng không hề hay biết rằng mình phải chết vì Ngài. Các trẻ em ấy là kiểu mẫu của không biết bao nhiêu vị thánh vô danh.
Có những Mẹ Têrêxa Calcutta, những linh mục Pierre mà thế giới không ngừng nhắc đến, nhưng cũng có không biết bao nhiêu những người cha, người mẹ, người chồng, người vợ ngày ngày âm thầm hy sinh trong không biết bao nhiêu công việc vô danh, phiền toái mỗi ngày. Có biết bao nhiêu người đang âm thầm đau khổ và hy sinh cầu nguyện mà không thể thấy được kết quả của lời cầu nguyện của mình. Có biết bao nhiêu người âm thầm phục vụ tha nhân cách này hay cách khác mà không hề được đền đáp hay nhắc nhớ.
Trong ánh sáng của Mầu Nhiệm Giáng Sinh, chúng ta được mời gọi để tìm thấy giá trị của những hy sinh âm thầm từng ngày. Sự thinh lặng bé nhỏ của Hài Nhi Giêsu trong hang đá Bê Lem, 30 năm âm thầm của Ngià tại Nazareth: đó là ý nghĩa của cuộc sống phiền toái, độc điệu mỗi ngày của chúng ta. Hài Nhi Giêsu mời gọi chúng ta nhận ra giá trị của cuộc sống ấy. Thiên Chúa thi ân tùy theo cách thế Ngài muốn. Cuộc sống âm thầm và hy sinh từng ngày của chúng ta là một trong muôn nghìn cách thế thi ân của Ngài mà chúng ta không thể đo lường được. Ngoài sự tưởng tượng và dự đoán của chúng ta, những hy sinh từng ngày của chúng ta được Chúa dùng như cái bóng vô hình nhờ đó Ngài thông ban muôn ơn lành cho người khác.


 Tác giả Veritas

27 tháng 12, 2011

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia .

Để chụp được một bức ảnh đẹp các nhiếp ảnh gia phải tác nghiệp trong những tư thế vô cùng kỳ quặc. Công việc của những nhiếp ảnh gia nhiều lúc vô cùng vất vả, họ phải đi những chặng đường dài, hiểm trở... để có thể có những bức ảnh đẹp. Đôi khi để có được góc chụp đẹp thì họ thậm chí phải lội xuống nước, nằm ra đất, leo lên cây... Thế nhưng thành quả có được luôn xứng đáng với công sức bỏ ra. Chính vì thế mỗi người thưởng lãm cần có thái độ trân trọng khi xem ảnh.

Mời độc giả cùng xem chùm ảnh vô cùng hài hước, thể hiện sự say mê sáng tác của những nhiếp ảnh gia!

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Người ướt cũng được nhưng nhất quyết máy ảnh không được ướt.

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Trèo cả lên cây để chụp ảnh
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Lội xuống nước.
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Dáng chụp ảnh "khó đỡ" quá.

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Anh chàng nhiếp ảnh này thật liều lĩnh.
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Ô tí hon dành riêng cho máy ảnh.
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Vất vả quá...
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Sự linh hoạt
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Xếp hàng chụp ảnh nào!!!

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Thợ chụp ảnh đường phố, có cả máy in ảnh luôn
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Ngồi xếp hàng sau ô tô
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Nhiều thứ lỉnh kỉnh quá đi mất
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Động vật cũng thích chụp ảnh nè.
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Đủ các kiểu ống nhé
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Nằm cả ra đất
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Chụp được cái bình này thì làm vỡ cái bình khác
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia


Đâu đâu cũng thấy máy ảnh
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia


"Hot" quá cơ

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Đôi bạn nhiếp ảnh.

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Nhiếp ảnh gia với bộ ria cá tính
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Tay trái cầm máy ảnh, tay phải cầm máy quay
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Trẻ con chụp ảnh...
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

... người già cũng chụp ảnh
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Say sưa ngắm.

Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia
Những tư thế 'dở khóc dở cười" của nhiếp ảnh gia, Phi thường - kỳ quặc, huyen la,chuyen la the gioi,chuyen la co that, tin tuc, nhiep anh gia

Động tác y như nhau
                                                                                                                    Theo Ngựa Vằn (PLXH)

Lễ Mẹ Thiên Chúa

Tin Mừng:  Lc 2,16-21           Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi đến Bê-lem. Họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy,và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa,vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt, trước khi Hài Nhi thành thai trong lòng mẹ.